Bài viết này nằm trong số báo tháng Mười năm 2022 của Luật Khoa tạp chí, được phát hành lần đầu trên ấn bản PDF đề ngày 6/10/2022.
Năm 1945, khi Liên Hiệp Quốc được thành lập, Trung Quốc là một trong 51 thành viên sáng lập, và là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an. [1]
Tên gọi của nước này khi đó là Trung Hoa Dân Quốc (Republic of China – ROC), và chính quyền do Quốc Dân Đảng (KMT) kiểm soát.
Chính quyền Quốc Dân Đảng giữ chiếc ghế này ngay cả sau khi đã thất bại trong cuộc nội chiến với Đảng Cộng sản Trung Quốc, phải rút về Đài Loan từ năm 1949.
Đến tháng 10/1971, các thành viên Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu thông qua nghị quyết trục xuất Trung Hoa Dân Quốc, chấp nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (People’s Republic of China – PRC), do Đảng Cộng sản Trung Quốc lập ra, làm thành viên thay thế. [2]
Kể từ đó, Trung Hoa Dân Quốc, hay tên gọi quen thuộc hơn là Đài Loan, trở thành một nước hiếm hoi tồn tại bên ngoài Liên Hiệp Quốc.
Sự kiện trên hẳn là quen thuộc với nhiều người có quan tâm đến tình hình quốc tế. Không ít người gán cho nguyên nhân của nó nằm ở sức ép từ Trung Quốc, cùng với việc Mỹ “bắt tay” Đảng Cộng sản nước này, “bỏ rơi” Đài Loan.
Đó là những nhận định hoàn toàn chính xác.
Nhưng ít người biết rằng chính quyền Quốc Dân Đảng cũng “có công” rất lớn trong sự kiện này.
Chính xác hơn, nó đến từ chính sách “một Trung Quốc” mà Quốc Dân Đảng kiên quyết duy trì trong một thời gian rất dài, bất chấp tính phi thực tế và hệ lụy tiêu cực cho sự phát triển nhiều mặt của Đài Loan.
Tự cô lập mình khỏi thế giới
Trước khi mất ghế ở Liên Hiệp Quốc, Quốc Dân Đảng đã tự cắt đứt sợi dây liên kết của mình với nhiều quốc gia.
Trong một bài phân tích vào năm 2005, J. Bruce Jacobs, học giả người Úc chuyên nghiên cứu về Đài Loan, liệt kê các sự kiện tiêu biểu. [3] [4]
Tháng 1/1964, Pháp công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Khi đó, chính phủ Quốc Dân Đảng phản đối quyết liệt, “chống lại mọi ý tưởng về sự tồn tại của hai nước Trung Quốc (two Chinas)”. Một tháng sau đó, Trung Hoa Dân Quốc của Quốc Dân Đảng chủ động cắt đứt quan hệ ngoại giao với Pháp.
Trong ba tháng cuối năm 1970, lần lượt Canada, Ý và Chile công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tương tự với Pháp, chính sách “một Trung Quốc” khiến cho Trung Hoa Dân Quốc không thể duy trì quan hệ ngoại giao với những nước đã công nhận “nước Trung Quốc kia”.
Điều đáng nói là dù công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, các nước Pháp, Canada, Ý và Chile đều bỏ ngỏ khả năng duy trì quan hệ ngoại giao với Đài Loan. Các bản tuyên bố chung về thiết lập mối quan hệ giữa những nước này với Trung Quốc, hoặc không nhắc gì đến Đài Loan, hoặc chỉ ghi nhận lập trường của Trung Quốc mà không thể hiện sự đồng thuận.
Cánh cửa khép hờ này bị chính Đài Loan – Trung Hoa Dân Quốc đóng chặt.
Sau khi chính quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm thực quyền ở toàn bộ đại lục, việc các quốc gia khác công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là thực tế sớm muộn sẽ diễn ra, cũng như việc chính quyền nước này sẽ gia nhập Liên Hiệp Quốc.
Vào thời điểm đó, Mỹ đề xuất phương án “hai đại diện” (dual representation) nhằm tìm cách thỏa hiệp để cả Trung Hoa Dân Quốc lẫn Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đều có thể cùng tồn tại trong Liên Hiệp Quốc. [5]
Đề xuất này, dù được Mỹ và một số nước tích cực vận động, chết từ trong trứng nước khi không chỉ Đảng Cộng sản Trung Quốc phản đối, mà Quốc Dân Đảng cũng kiên quyết không chấp nhận.
Đến tháng 10/1971, nhận ra mình không có được đủ sự ủng hộ từ các quốc gia thành viên như tính toán, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc quyết định tự rút lui khỏi Liên Hiệp Quốc, trước khi Đại hội đồng bỏ phiếu thông qua nghị quyết thay thế chiếc ghế của nước này.
Đến bây giờ, sau rất nhiều lần tìm cách quay trở lại, ngay cả khi chấp nhận từ bỏ tên gọi Trung Hoa Dân Quốc và thay bằng Đài Loan (Taiwan), đảo quốc này vẫn chưa tìm được đường vào lại Liên Hiệp Quốc. [6]
Duy trì một nhà nước không đại diện cho ai
Trong nhiều thập niên kể từ khi rút lui toàn bộ chính quyền về Đài Loan, Quốc Dân Đảng vẫn duy trì một hệ thống có một không hai, khi các đại biểu dân cử trong hệ thống Quốc hội không đại diện cho ai trên thực tế.
Theo Hiến pháp thông qua năm 1947 tại Nam Kinh, Trung Quốc, các cơ quan Quốc hội của Trung Hoa Dân Quốc gồm có Lập pháp Viện (立法院 – Legislative Yuan), Giám sát Viện (監察院 – Control Yuan) và Quốc dân Đại hội (國民大會 – National Assembly). [7]
Dù có nhiều khác biệt, nhưng có thể hình dung chức năng của Lập pháp Viện tương đương với Hạ viện (House of Representatives) của Hoa Kỳ, Giám sát Viện tương đương với Thượng viện (Senate), còn Quốc dân Đại hội có vai trò như Đại cử tri đoàn (Electoral College).
Năm 1949, toàn bộ bộ máy nhà nước của Trung Hoa Dân Quốc rút lui về Đài Loan. Vì chỉ xem đây là cứ địa tạm thời trong khi chờ quay lại tái chiếm đại lục, chính quyền Quốc Dân Đảng quyết định giữ nguyên cơ cấu Quốc hội.
Theo như Bản giải thích Hiến pháp số 31 (Constitutional Interpretation No. 31) được công bố vào năm 1954, các đại biểu được bầu khi còn ở Trung Quốc đại lục tiếp tục giữ ghế của mình vô thời hạn, đến khi có thể tiến hành bầu cử ở đại lục như cũ. [8]
Nghĩa là trong hơn 40 năm, người dân Đài Loan có một nhà nước mà các đại biểu Quốc hội là những đại diện cho các địa phương ở bên đại lục, thay vì là những đại diện cho chính họ và do họ bầu ra.
Hiển nhiên, vì Quốc Dân Đảng không còn nắm quyền tại đại lục, những đại biểu này trên thực tế cũng không đại diện cho người dân nào ở bên kia eo biển.
Người Đài Loan gọi các đại-biểu-trọn-đời-không-đại-diện-cho-ai này là “lão tặc” (老賊), theo đúng nghĩa đen, những ông già cướp các vị trí trong bộ máy nhà nước.
Chỉ đến khi số lượng các đại biểu này sụt giảm (vì quá già và chết đi), Quốc Dân Đảng mới đồng ý tổ chức một cách giới hạn các cuộc bầu cử để bổ sung nhân sự. [9]
Sự tồn tại của các “lão tặc” này là vật cản lớn trong quá trình dân chủ hóa, và vấp phải sự phản đối liên tục từ người dân Đài Loan.
Năm 1990, Hội đồng Đại Thẩm phán (Council of Grand Justices) thông qua Bản giải thích Hiến pháp số 261, nêu rõ các đại biểu Quốc hội được bầu trước đó tại đại lục phải rời ghế trước ngày 31/12/1991. [10]
Năm 1991, cuộc bầu cử các đại biểu Quốc dân Đại hội được tiến hành. [11] Một năm sau, cuộc bầu cử thay thế toàn bộ các đại biểu của Lập pháp Viện được tổ chức lần đầu tiên. [12]
Mất đến hơn 40 năm, người dân Đài Loan mới được lựa chọn các đại diện cho mình.
Tạo ra cơn khủng hoảng về căn tính dân tộc
Chính sách “một Trung Quốc” của Quốc Dân Đảng còn khiến người dân Đài Loan trong suốt thời gian dài không biết mình là ai.
Luôn nuôi giữ tham vọng chiếm lại đại lục, chính quyền Quốc Dân Đảng từ những ngày đầu tiên đã xây dựng một chương trình giáo dục mà trong đó, tất cả người Đài Loan đều phải ghi nhớ mình là người Trung Quốc và có nghĩa vụ phải giải phóng các đồng bào ở bên kia eo biển. [13]
Người Đài Loan phải học tường tận về lịch sử, địa lý của Trung Quốc, trong khi gần như không được học gì về lịch sử của mảnh đất mình sinh ra và lớn lên.
Họ bị buộc phải học và nói tiếng Phổ thông (hay Quan thoại, tiếng Anh là Mandarin), ngôn ngữ thống nhất của Trung Quốc, và bị cấm nói các thứ tiếng địa phương như Phúc Kiến (Fujianese) hay Khách Gia (Hakkanese), bất chấp việc đó là các ngôn ngữ mẹ đẻ của phần lớn người Đài Loan.
Cách giáo dục này vốn dành cho những người Trung Quốc đại lục. Nhưng trong cơ cấu xã hội của Đài Loan, những người đến từ đại lục sau năm 1949 chỉ chiếm dưới 15%. [14] Tuyệt đại đa số người Đài Loan vì vậy luôn có cảm giác sống trong một thứ căn tính bị cưỡng bách, không thuộc về họ.
Hệ thống này tạo nên một thứ mà J. Bruce Jacobs gọi là “xã hội thực dân” (colonial society). [15]
Trong xã hội thực dân đó, nhiều người gặp khủng hoảng với lựa chọn xem mình là ai.
Nhiều phong trào đòi quyền tự do, dân chủ phát triển mạnh từ thập niên 1970 đi kèm với việc thách thức “căn tính Trung Quốc” mà chính quyền áp đặt lên toàn bộ người dân.
Đầu những năm 1990, sau khi đã dân chủ hóa, người dân đảo quốc vẫn còn chia rẽ về việc rốt cuộc họ là người Trung Quốc hay người Đài. [16]
Chỉ đến hơn một thập niên gần đây, xu hướng lựa chọn của người Đài Loan mới dần lộ rõ, khi phần lớn lựa chọn căn tính Đài Loan, một bộ phận khác chọn căn tính tổng hợp, vừa Đài vừa Trung, và chỉ còn một số lượng rất ít vẫn còn xem mình là người Trung Quốc.
Chú thích
1. Ask DAG. (2022, September 7). Where can I find information about the founding members of the UN? https://ask.un.org/faq/243656
2. Staff, R. (2021, October 25). Taiwan, U.S. discuss UN participation ahead of key anniversary. U.S. Retrieved September 12, 2022, from https://www.reuters.com/article/us-taiwan-usa-un-idCAKBN2HE014
3. Jacobs, B. J. . (2006, March 13). One China, diplomatic isolation and a separate Taiwan | 16 | China’s R. Taylor & Francis. Retrieved September 12, 2022, from https://www.taylorfrancis.com/chapters/edit/10.4324/9780203099841-16/one-china-diplomatic-isolation-separate-taiwan-bruce-jacobs
4. 台北時報. (2020, March 4). Taiwan specialist Bruce Jacobs dies in Melbourne. Taipei Times. Retrieved September 12, 2022, from https://www.taipeitimes.com/News/front/archives/2019/11/25/2003726439
5. Winkler, S. (2016, August 25). Taiwan’s UN Dilemma: To Be or Not To Be. Brookings. Retrieved September 12, 2022, from https://www.brookings.edu/opinions/taiwans-un-dilemma-to-be-or-not-to-be/
6. Worsnip, P. (2007, September 19). Taiwan rejected in high-profile bid to join U.N. U.S. Retrieved September 12, 2022, from https://www.reuters.com/article/us-taiwan-un-idUSN1926872820070919
7. Laws & Regulations Database of The Republic of China (Taiwan). (1947, January 1). Constitution of the Republic of China (Taiwan). https://law.moj.gov.tw/ENG/LawClass/LawAll.aspx?pcode=A0000001
8. Constitutional Court R.O.C. (Taiwan). (1954, January 29). Constitutional Interpretation No. 31. https://cons.judicial.gov.tw/en/docdata.aspx?fid=100&id=310212
9. Amazon.com: Democratizing Taiwan: 9789004221543: J. Bruce Jacobs: Books. (n.d.). Page 76. Retrieved September 12, 2022, from https://www.amazon.com/Democratizing-Taiwan-J-Bruce-Jacobs/dp/9004221549
10. Constitutional Court R.O.C. (Taiwan). (1990, June 21). Constitutional Interpretation No. 261. https://cons.judicial.gov.tw/en/docdata.aspx?fid=100&id=310442
11. DREYER, J. T. (1992). Taiwan’s December 1991 Election. World Affairs, 155(2), 67–70. http://www.jstor.org/stable/20672342
12. COPPER, J. F. (1992). Taiwan’s 1992 Legislative Yuan Election. World Affairs, 155(2), 71–79. http://www.jstor.org/stable/20672343
13. Shei, C. C. (2021, March 4). Taiwan: Manipulation of Ideology and Struggle for Identity. Routledge.
14. Amazon.com: Democratizing Taiwan: 9789004221543: J. Bruce Jacobs: Books. (n.d.). Page 6. Retrieved September 12, 2022, from https://www.amazon.com/Democratizing-Taiwan-J-Bruce-Jacobs/dp/9004221549
15. Amazon.com: Democratizing Taiwan: 9789004221543: J. Bruce Jacobs: Books. (n.d.). Page 19. Retrieved September 12, 2022, from https://www.amazon.com/Democratizing-Taiwan-J-Bruce-Jacobs/dp/9004221549
16. Election Study Center (2022, July 12). Taiwanese / Chinese Identity(1992/06~2022/06). Election Study Center, NCCU. https://esc.nccu.edu.tw/PageDoc/Detail?fid=7800&id=6961
