"Một Trung Quốc" qua các đời tổng thống Hoa Kỳ
Luat Khoa Logo White
GÓI TRẢ PHÍ | Tặng báo | Newsletter | Đăng nhập
  • Thời sự
  • Quan điểm
  • Pháp luật
  • Chính trị
  • Lịch sử
    • Việt Nam Cộng hòa
  • Quốc tế
  • Dự án 1975
    • Quỹ Nghiên cứu Việt Nam Cộng hòa
  • English
  • Video
  • Thời sự
  • Quan điểm
  • Pháp luật
  • Chính trị
  • Lịch sử
    • Việt Nam Cộng hòa
  • Quốc tế
  • Dự án 1975
    • Quỹ Nghiên cứu Việt Nam Cộng hòa
  • English
  • Video
GÓI TRẢ PHÍ | Đăng nhập
GÓI TRẢ PHÍ
Luat Khoa Logo White
Person
  • Thời sự
  • Quan điểm
  • Pháp luật
  • Chính trị
  • Lịch sử
    • Việt Nam Cộng hòa
  • Quốc tế
  • Dự án 1975
    • Quỹ Nghiên cứu Việt Nam Cộng hòa
  • English
  • Video
Khách
  • Ủng hộ Luật Khoa
  • Quản lý tài khoản
  • Cập nhật Newsletter
  • Cộng tác viết bài
  • Liên lạc với Luật Khoa
Đăng nhập/ Đăng ký

Đóng

ỦNG HỘ LUẬT KHOA

Chuyên mục

  • Thời sự
  • Quan điểm
  • Pháp luật
  • Chính trị
  • Việt Nam Cộng hòa
  • Quốc tế
  • Lịch sử
  • Tư tưởng
  • Diễn đàn
  • Đọc sách cùng Đoan Trang
  • Nhân quyền
  • Tôn giáo
    • Bản tin tôn giáo
  • Giáo dục
  • Tin Luật Khoa
  • Video

Dự án khác

1975 Luat Khoa Luật Khoa Video The Vietnamese Báo Tàng

LUẬT KHOA VÀ BẠN ĐỌC

Nhận thư tin hàng tuần, tham gia góp ý bài vở, và theo dõi hành trình làm báo độc lập của Luật Khoa

ĐĂNG KÝ NHẬN THƯ

Hoạt động khác

Chương trình tặng báo Membership Ủng hộ Dự án 1975
Về Luật Khoa Quảng cáo cùng Luật Khoa Gửi bài Liên lạc với Luật Khoa
Trang chủ Quốc tế

“Một Trung Quốc” qua các đời tổng thống Hoa Kỳ

Nguyễn Quốc Tấn Trung
05/10/2022
0

Bài viết này nằm trong số báo tháng Mười năm 2022 của Luật Khoa tạp chí, được phát hành lần đầu trên ấn bản PDF đề ngày 6/10/2022.


Trước khi bắt đầu với sự lộn xộn của các đời tổng thống Hoa Kỳ, thói quen tiền hậu bất nhất của hệ thống chính trị lưỡng đảng, cũng như các quan điểm có phần đá chân nhau liên tục của họ, chúng ta trước tiên cần xác định điều gì là thống nhất trong chính sách Một Trung Quốc của các đời chính quyền Hoa Kỳ.

Ở một mặt nào đó, dù các chính quyền khác nhau với những cá nhân khác nhau của Hoa Kỳ sẽ theo đuổi các lợi ích chính sách khác nhau, nguyên tắc pháp quyền (rule of law), ở cả mặt pháp luật nội địa và pháp luật quốc tế, sẽ đặt ra những giới hạn nhất định cho các chính trị gia Hoa Kỳ. Nói cách khác, hành vi chính sách của các đời tổng thống sẽ bị giới hạn bởi một số văn bản pháp lý mà họ lập ra trong suốt giai đoạn ngoại giao mấy thập niên qua.

Vậy những văn bản quy phạm nào xác định lập trường cơ bản của Hoa Kỳ? Và chúng có điểm chung là gì?

Các văn bản quy phạm liên quan đến chính sách Một Trung Quốc

May mắn là không quá khó để có một cái nhìn cơ bản về Một Trung Quốc từ phía Hoa Kỳ. Trong các tài liệu, có năm văn bản chúng ta cần lưu ý và ghi nhớ:

  1. Thông cáo Thượng Hải 1972 (Shanghai Communiqué 1972)
  2. Thông cáo Bình thường hóa quan hệ ngoại giao 1979 (Normalisation Communiqué 1979)
  3. Đạo luật về Quan hệ Ngoại giao với Đài Loan 1979 (Taiwan Relations Act 1979)
  4. Sáu Bảo đảm đến Đài Bắc 1982 (Six Assurances to Taipei of 1982)
  5. Thông cáo 17 tháng 8 [về mua bán vũ khí quân sự] 1982 (August 17 Communiqué of 1982)

Nhìn chung, chỉ cần đọc vài dòng mở màn của những văn bản này, chúng ta sẽ nhận ra Một Trung Quốc là một chính sách kỳ lạ và mập mờ đến như thế nào.

Đầu tiên, phải kể đến Thông cáo Thượng Hải 1972, văn bản ngoại giao đầu tiên giữa nhà nước Hoa Kỳ và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau khi chính quyền Trung Hoa Dân Quốc bị loại khỏi Liên Hiệp Quốc vào năm 1971. [1]

Điểm thú vị là, ngay cả khi chính quyền của Trung Hoa Dân Quốc đã không còn bất kỳ vị thế chính trị nào trên trường quốc tế, và bản thân ông Nixon (Tổng thống) lẫn Henry Kissinger (có thể được xem là kiến trúc sư trưởng cho toàn bộ chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ giai đoạn này) đều được cho là đã “đi đêm” với chính quyền đại lục, Thông cáo Thượng Hải gửi gắm một thông điệp không thể mập mờ hơn từ phía Hoa Kỳ.

Theo đó, phía Hoa Kỳ:

“[…] thừa nhận quan điểm của người Trung Quốc ở cả hai phía của eo biển Đài Loan rằng chỉ có một Trung Quốc, và Đài Loan là một phần của Trung Quốc.

Nhà nước Hoa Kỳ không thách thức quan điểm này.

Chúng tôi cũng khẳng định lợi ích của mình trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan một cách hòa bình giữa người Trung Quốc với nhau […]” [2]

Hai vấn đề lớn trong thông điệp này được người viết in đậm để dễ theo dõi.

Một là, chính phủ Hoa Kỳ không công nhận hay thừa nhận bất kỳ điều gì liên quan đến chủ quyền của Trung Quốc đại lục lẫn Trung Hoa Dân Quốc ở Đài Loan.

Họ để cho người Trung Quốc ở cả hai phía tự giải quyết.

Thay vì tự mình công nhận rằng chỉ có một Trung Quốc, và Đài Loan là một phần của Trung Quốc, chính phủ Nixon thừa nhận rằng người Trung Quốc – dù là Trung Hoa Dân Quốc hay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa – có quan điểm rằng Trung Quốc chỉ có một.

Điều này tạo ra rất nhiều không gian để các chính phủ Hoa Kỳ sau này có thể điều chỉnh diễn ngôn chính trị.

Ở một phương diện, thông điệp có thể được lý giải rằng chúng tôi thừa nhận là anh có quan điểm như vậy về Đài Loan, và tôi không có phản đối gì với quan điểm của riêng anh.

Nhưng quan điểm của tôi thì sao?

Tôi vẫn chưa đưa ra quan điểm cụ thể.

Ở phương diện khác, chính quyền Hoa Kỳ đưa ra thông điệp này vào thời điểm mà cả người Trung Quốc ở đại lục lẫn Đài Loan đều cho rằng Trung Quốc chỉ có một và Đài Loan là của Trung Quốc.

Trong tương lai, nếu một bên (như Đài Loan) không còn duy trì quan điểm như vậy thì sao? Thông điệp của Hoa Kỳ có thể sẽ thay đổi.

Nói cách khác, chính sách Một Trung Quốc của Hoa Kỳ được hình thành với ngôn từ mơ hồ có chủ đích, đồng thời với đó là đẩy trách nhiệm cho hai bên tranh chấp trực tiếp là Trung Quốc và Đài Loan, thay vì tự mình đưa ra một chính sách rõ ràng.

Vấn đề thứ hai là, sau khi đưa ra phiên bản Một Trung Quốc vô cùng bất định, người Mỹ lại khẳng định lợi ích của mình trong việc theo dõi và bảo đảm rằng xung đột về Đài Loan sẽ được giải quyết một cách hòa bình.

Điều này là một minh chứng rõ ràng hơn cho thấy Một Trung Quốc không phải là sự công nhận của Hoa Kỳ đối với chủ quyền của nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Bởi nếu Hoa Kỳ đã công nhận điều đó thì vấn đề Đài Loan trở thành vấn đề hoàn toàn nội bộ của Trung Quốc, và Hoa Kỳ sẽ không thể can thiệp vào cách thức giải quyết xung đột Đài Loan như vậy.

Thông cáo Thượng Hải 1972 có thể nói là tạo ra nền tảng cho toàn bộ lịch sử của sự mập mờ pháp lý từ Hoa Kỳ.

Tám năm sau, với hai đời tổng thống kế nhiệm, Thông cáo về Bình thường hóa Quan hệ Ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc năm 1979 tiếp tục sử dụng kỹ thuật và diễn ngôn của Thông cáo Thượng Hải. [3]

Một mặt, chính quyền Hoa Kỳ công nhận (recognize) Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là chính quyền hợp pháp duy nhất đại diện cho “toàn Trung Quốc”.

Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng khẳng định họ sẽ tiếp tục duy trì các mối quan hệ về văn hóa, thương mại, và các vấn đề quan hệ không chính thức khác với Đài Loan. Khái niệm Trung Quốc và Đài Loan dường như được tách rời khỏi nhau một cách có chủ đích.

Quan trọng hơn nữa, chính quyền Hoa Kỳ tiếp tục dừng lại ở mức thừa nhận (acknowledge) quan điểm của chính quyền Trung Quốc rằng chỉ có một Trung Quốc và Đài Loan là một phần của Trung Quốc.

Một lần nữa, Hoa Kỳ lại không tự mình “công nhận” chủ quyền Trung Quốc đến đâu và Đài Loan là của ai. Họ “thừa nhận” việc phía Trung Quốc có quan điểm rằng Đài Loan là một phần không thể tách rời của đại lục, nhưng việc họ có công nhận tương tự hay không lại là chuyện rất khác.

Sự mơ hồ này dần được biết đến với tên gọi “mơ hồ chiến lược” (strategic ambiguity), và từ đó trở thành quyết sách chính thức của các đời chính quyền Hoa Kỳ dành cho vấn đề Đài Loan.

Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở mức mơ hồ chiến lược, các nhà lập pháp Hoa Kỳ với Đạo luật về Quan hệ Ngoại giao với Đài Loan 1979 (Taiwan Relations Act 1979) thậm chí đặt ra trách nhiệm đối với các đời tổng thống Hoa Kỳ trong việc xử lý ra sao mối quan hệ với Đài Loan. [4]

Trong đó, họ ghi nhận cụ thể rằng hòa bình và ổn định của eo biển Đài Loan ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích chính trị, an ninh và kinh tế của Hoa Kỳ.

Họ cũng tự xác định rằng đây là vấn đề quốc tế.

Không chỉ vậy, giới lập pháp còn cho rằng Hoa Kỳ xác lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc dựa trên kỳ vọng rằng tương lai của Đài Loan sẽ được xác định bằng các giải pháp hòa bình. Trên cơ sở đó, bất kỳ nỗ lực nào muốn áp đặt hay giải quyết tình trạng Đài Loan mà không phải bằng con đường hòa bình sẽ được xem là đe dọa hòa bình và an ninh của khu vực Tây Thái Bình Dương, và là vấn đề nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ. Đạo luật từ đó yêu cầu các chương trình mua bán vũ khí, các chương trình đối tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, v.v với Đài Loan được tiếp tục phát triển một cách bình thường.

Như vậy, cho đến thời điểm này, Một Trung Quốc dưới góc nhìn của Hoa Kỳ có thể được khái quát thành ba thành tố chính:

  1. Sự mơ hồ chiến lược về việc công nhận Trung Quốc và Đài Loan;
  2. Kỳ vọng duy trì sự tồn tại của thực thể chính trị có triển vọng dân chủ là Đài Loan;
  3. Và từ đó, quan trọng hơn, là kỳ vọng duy trì tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở khu vực biển quan trọng này.

Tuy nhiên, dù tư tưởng chung ban đầu là như vậy, Hoa Kỳ cũng đã trải qua đến mười đời tổng thống kể từ khi các chính sách ngoại giao của quốc gia này manh nha khái niệm Một Trung Quốc (mà cụ thể là từ thời của Tổng thống Nixon).

Mỗi tổng thống, với những người cố vấn thân cận, những cương lĩnh, tham vọng, tính cách, niềm tin và trải nghiệm cá nhân khác nhau, có thể sẽ tạo ra những thay đổi nhất định cho chính sách Một Trung Quốc nói chung. Những thay đổi này có thể mang đến một số điểm cân bằng cân nhắc quyền lợi giữa các bên, nhưng cũng có thể nhượng bộ Bắc Kinh và gây ảnh hưởng đến những cam kết ban đầu mà hệ thống chính trị Hoa Kỳ đưa ra dành cho Đài Loan.

Vậy sau mười đời tổng thống, chính sách Một Trung Quốc đã có những biến đổi như thế nào?

Trước tiên, cần liệt kê mười đời tổng thống mà chúng ta đã nhắc đến:

  1. Richard Nixon (1969 – 1974) (Đảng Cộng hòa);
  2. Gerald Ford (1974 – 1977) (Đảng Cộng hòa);
  3. Jimmy Carter (1977 – 1981) (Đảng Dân chủ);
  4. Ronald Reagan (1981 – 1989) (Đảng Cộng hòa);
  5. George H. W. Bush (1989 – 1993) (Đảng Cộng hòa);
  6. Bill Clinton (1993 – 2001) (Đảng Dân chủ)
  7. George W. Bush (2001 – 2009) (Đảng Cộng hòa)
  8. Barack Obama (2009 – 2017) (Đảng Dân chủ)
  9. Donald Trump (2017 – 2021) (Đảng Cộng hòa)
  10. Joe Biden (2021 – nay) (Đảng Dân chủ)

***

1969 – 1974: Điểm khởi đầu của Nixon

Nixon và bộ sậu là điểm khởi đầu của quá trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, bao gồm cả nhân vật Henry Kissinger mới gây tranh cãi gần đây với những quan điểm gây sốc (như việc cho rằng Kyiv nên nhượng đất cho Kremlin). [5]

Trong giai đoạn nắm quyền của mình, Nixon và Kissinger được cho là “đi đêm” với chính quyền Trung Quốc và “đâm sau lưng” chính quyền Trung Hoa Dân Quốc.

Một số thì lại cho rằng chính quyền Nixon không làm gì khác ngoài việc thừa nhận hiện thực chính trị giữa eo biển Đài Loan.

Dù gì đi chăng nữa, chính quyền Nixon là chính quyền đầu tiên kết nối với Bắc Kinh và thể hiện quan điểm rằng họ sẽ công nhận chủ quyền của nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chí ít là đối với đại lục.

Không chỉ vậy, thông tin giải mật sau này về các cuộc trò chuyện giữa Kissinger và Thủ tướng Chu Ân Lai, và giữa Nixon và Chu Ân Lai cho thấy một bức tranh tương đối rõ về mục tiêu và phạm vi của các chính sách được lựa chọn. [6]

Ví dụ, khi nói chuyện với Chu Ân Lai vào năm 1971, Kissinger khẳng định:

“Về tương lai chính trị của Đài Loan, chúng tôi [ý chỉ Hoa Kỳ] không ủng hộ giải pháp ‘Hai Trung Quốc’, hay giải pháp ‘Một Trung Quốc, Một Đài Loan’”.

Khi trả lời câu hỏi của Chu Ân Lai về việc liệu Hoa Kỳ có ủng hộ phong trào Đài Loan độc lập hay không, Kissinger cũng khẳng định:

“Chúng tôi chắc chắn sẽ không làm vậy.”

Đến năm 1972, cuộc hội đàm bí mật trực tiếp giữa Nixon và Chu Ân Lai hình thành nên Năm Nguyên tắc (Five Principles) – nguồn gốc thể hiện tư duy chính sách chủ yếu của Nixon về Đài Loan. [7] Theo đó:

  1. Chỉ có một Trung Quốc, và Đài Loan là một phần của Trung Quốc. Tuy nhiên, Nixon cũng ghi nhận rõ là khẳng định này chỉ có thể được bảo đảm nếu ông có thể kiểm soát bộ máy nhà nước Hoa Kỳ (if I can control our bureaucracy). Tuy nhiên, nếu có ai trong bộ máy chính quyền vẫn còn tiếp tục bình luận thêm gì về vấn đề này (ý chỉ các nhà lập pháp Cộng hoà hoặc các nhóm chính trị ủng hộ Đài Loan), tình trạng pháp lý của “quốc đảo” này chắc chắn sẽ còn rất rối rắm trong không gian chính trị Hoa Kỳ.
  2. Hoa Kỳ chưa và sẽ không ủng hộ phong trào Đài Loan giành độc lập;
  3. Hoa Kỳ sẽ cố gắng gây ảnh hưởng để Nhật Bản không can thiệp vào tình hình Đài Loan, đặc biệt sau khi Hoa Kỳ rút sự hiện diện của mình khỏi hòn đảo này. Hoa Kỳ cũng sẽ cố gắng thuyết phục Nhật Bản không ủng hộ phong trào Đài Loan độc lập.
  4. Hoa Kỳ ủng hộ các biện pháp hòa bình để giải quyết vấn đề Đài Loan. Và Hoa Kỳ cũng sẽ không ủng hộ các hoạt động quân sự của chính quyền Đài Loan nhắm đến đại lục.
  5. Cuối cùng, Hoa Kỳ nhắm đến việc bình thường hóa quan hệ với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Và dù Đài Loan là một rào cản giữa hai quốc gia, Hoa Kỳ kỳ vọng có thể giải quyết câu chuyện ngoại giao hai nước thông qua khung chính sách nói trên.

Như vậy, có thể nói Năm Nguyên tắc của chính quyền Nixon gần như đáp ứng toàn bộ nguyện vọng của Bắc Kinh, từ không công nhận Đài Loan độc lập, không ủng hộ phong trào độc lập ở Đài Loan, cho đến kiềm chế sự kiểm soát của Nhật Bản tại Đài Loan.

Tuy nhiên, các chính khách Trung Quốc đã không thể tạo đủ áp lực để chính quyền Hoa Kỳ đưa ra một thông cáo ngoại giao rõ ràng như vậy. Và điều này đánh dấu việc hình thành sự “mơ hồ chiến lược” của giới cầm quyền Hoa Kỳ đối với chính sách Một Trung Quốc.

***

1974 – 1977: Khi Ford tiếp nối Nixon

Gerald Ford là một tổng thống kém may mắn trong lịch sử chính trị Hoa Kỳ.

Thay thế Nixon sau vụ bê bối Watergate và phải đối phó với hệ quả của Chiến tranh Việt Nam, Ford không có cơ hội tham gia hay đưa ra bất kỳ chính sách nào đặc trưng cho vấn đề Một Trung Quốc. Trong nội các của mình, Ford thay đổi gần như toàn bộ nhân sự cấp cao của thời Nixon nhưng giữ lại Kissinger. Điều này cho thấy tư duy về chính sách ngoại giao của ông không khác mấy so với thời Nixon.

Thậm chí, có nhiều cáo buộc cho rằng Ford – Kissinger còn hứa với chính quyền Bắc Kinh rằng họ sẽ hoàn toàn cắt bỏ quan hệ ngoại giao với Đài Loan/ Trung Hoa Dân Quốc. [8] Tuy nhiên, tương tự như các cuộc hội đàm bí mật trước đó, có thể cho rằng đây chỉ là những lời hứa bâng quơ của giới chính trị gia Hoa Kỳ và không tạo ra bất kỳ sức nặng nào được ghi nhận trong các thỏa thuận quốc tế giữa hai bên.

***

1977 – 1981: Dấu ấn cá nhân của Carter

Giai đoạn nắm quyền của Tổng thống Jimmy Carter cũng là một giai đoạn đặc biệt quan trọng vì đây là thời điểm Hoa Kỳ chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trong giai đoạn này, có một số văn bản đáng chú ý:

  1. Tuyên bố của Mỹ về việc Bình thường hóa Quan hệ Ngoại giao với Trung Quốc (U.S. Statement on Diplomatic Recognition of the PRC 1978);
  2. Thông cáo Bình thường hóa Quan hệ Ngoại giao chung Hoa Kỳ – Trung Quốc (“U.S. – PRC Joint Communiqué on the Establishment of Diplomatic Relations 1979”, hay còn được gọi là “Normalization Communiqué 1979”);
  3. Đạo luật về Quan hệ Ngoại giao với Đài Loan 1979.

Chúng ta đã bàn về hầu hết các văn bản này ở phần trên, nên không cần thiết nói về chúng quá nhiều nữa.

Tuy nhiên, có một điều đáng nói là theo ghi nhận của chính sử Hoa Kỳ, nền tảng bình thường hóa với Trung Quốc mà cả Nixon lẫn Ford gầy dựng thật ra không bền vững, cũng như chúng chưa biến thành định hướng chính sách không thể thay đổi. [9]

Vẫn còn nhiều khúc mắc chưa thể giải quyết, và sự phản đối từ phía các dân biểu, thượng nghị sĩ thuộc Đảng Cộng hòa trong suốt giai đoạn thực hiện chính sách của Nixon và Ford chắc chắn là những rào cản không thể không nói tới. Vì vậy, quá trình bình thường hóa quan hệ với chính quyền Bắc Kinh, đồng thời với việc hủy bỏ công nhận ngoại giao dành cho Trung Hoa Dân Quốc, có thể được xem là một phần nỗ lực cá nhân của Jimmy Carter.

Vị tổng thống khẳng định chính sách ngoại giao của mình sẽ không gây tổn hại đến SALT (Strategic Arms Limitation Talks – Đàm phán Kiểm soát Vũ khí Chiến lược) đang thực hiện với Liên Xô, và chính sách này cũng sẽ không biến Đài Loan trở thành mục tiêu quân sự của Trung Quốc.

Từ một số góc độ khác, những nhà bình luận như Jean A. Garrison cũng ghi nhận thêm rằng có khá nhiều nhân vật cấp cao trong nội các của Carter phản đối bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, mà cái tên đáng kể nhất phải kể đến là Cyrus Vance – Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của chính quyền Carter. [10] Theo đó, Vance luôn cố gắng phản đối việc bỏ rơi Đài Loan và các cuộc gặp của ông với Trung Quốc đều luôn ở trạng thái đối đầu.

Tuy nhiên, sự kiện Liên Xô xâm lược Afghanistan khiến các chính trị gia ủng hộ bình thường hóa với Trung Quốc thắng thế, từ đó buộc những người như Vance phải nhượng bộ. Tại thời điểm đó, dù thế nào đi chăng nữa, Liên Xô vẫn hiện diện như một mối đe dọa quân sự nguy hiểm hơn rất nhiều so với một Trung Quốc chỉ mong muốn phát triển kinh tế và giải quyết ổn thỏa vấn đề Đài Loan.

Như vậy, bản thân Tổng thống Jimmy Carter có kỳ vọng cá nhân trong việc để lại dấu ấn của mình trong vấn đề bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Và sự nhượng bộ đối với Trung Quốc sẽ đi kèm với việc giảm bớt sự hiện diện của Hoa Kỳ tại châu Á nói chung – đây là chính sách chung của Carter.

Song sự việc đi theo mong đợi của ông một phần nhờ vào các yếu tố ngoại vi, mà sự hung hăng quân sự của Liên Xô là yếu tố quan trọng nhất.

Mặt khác, chúng ta cũng cần thấy rằng trong nội bộ chính trị Hoa Kỳ, các nhóm ủng hộ Trung Hoa Dân Quốc và một Đài Loan độc lập không phải là không có tiếng nói chính trị.

***

1981 – 1989: Sáu Bảo đảm của Reagan

Reagan bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống Hoa Kỳ của mình với chiến dịch “xoay trục về châu Á” đầu tiên trong nhiều thập niên hậu thế chiến. Và có thể nói, tổng hòa các hành vi chính sách của Reagan ở châu Á tạo ra một bức tranh hơi lộn xộn.

Ông cho phép Trung Quốc và Pakistan mua các sản phẩm quốc phòng có khả năng gây sát thương, đồng thời cũng đưa ra hàng loạt cam kết nghiêm túc để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ cho đảo Đài Loan, củng cố quan hệ với Nhật Bản thông qua Thông cáo Reagan – Suzuki, bán thế hệ máy bay chiến đấu đời mới thời điểm đó là F-16 cho Đại Hàn Dân Quốc, và mở rộng hợp tác kinh tế – an ninh với các quốc gia ASEAN, v.v. [11]

Khó có thể xác định Reagan đang theo đuổi điều gì và ủng hộ ai trong quan hệ Trung Quốc – Đài Loan.

Tuy nhiên, tương tự như trong giai đoạn của Carter, khi chúng ta mang Liên Xô vào bức tranh toàn cảnh, mọi thứ dường như có thể được lý giải tương đối dễ dàng.

Trong giai đoạn này, Liên Xô đổ 10.000 quân vào quần đảo Kuril – phía Bắc Nhật Bản – với khả năng xây dựng một căn cứ quân sự thường trực.

Sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, theo sau đó là việc Liên Xô có thể tiếp cận với các cảng quân sự quan trọng và hiện đại như Cam Ranh, đồng nghĩa với việc các tuyến hàng hải quan trọng của vùng châu Á – Thái Bình Dương đều nằm trong tầm với của Hải quân Liên Xô.

Hơn 100 đầu đạn hạt nhân tầm trung của Liên Xô cũng đang ngắm đến hầu hết các vị trí chiến lược ở châu Á.

Cấu trúc và sự hiện diện quân sự này biến Liên Xô trở thành kẻ thù chung của toàn châu Á – Thái Bình Dương (kể cả theo quan điểm của chính quyền Trung Quốc đại lục), và vì vậy, sự hỗ trợ dành cho bất kỳ quốc gia nào có khả năng là một đồng minh của Hoa Kỳ tại khu vực này đều được cho là phù hợp với tầm nhìn ngoại giao nói chung của Mỹ.

Tuy nhiên, có một điểm mà chính quyền Reagan tự cho là mình vượt trội hơn chính quyền Carter. Thay vì nhượng bộ Trung Quốc và rút dần sự hiện diện của mình khỏi châu Á, Reagan khẳng định Hoa Kỳ phải tiếp tục duy trì vai trò lãnh đạo chính trị tại toàn châu lục.

Trong Luận cương Đảng Cộng hòa năm 1980 được trình để chuẩn bị cho kỳ đại hội tại Michigan, Reagan và các nhóm ủng hộ chính trị của mình lên tiếng: [12]

“Hoa Kỳ là – và cần tiếp tục là – một thế lực tại Thái Bình Dương. Các thành viên của Đảng Cộng hòa nhận thấy xu hướng rời bỏ quyền lực tại châu Á của chính quyền Đảng Dân chủ trong nhiệm kỳ qua [ý chỉ Carter – ND].

Một chính quyền mới của Đảng Cộng hòa sẽ khôi phục quyền lực của Hoa Kỳ tại khu vực này.

Chúng ta sẽ gửi một thông điệp rõ ràng rằng bất kỳ hành vi quân sự nào đe dọa độc lập của các đồng minh của Hoa Kỳ tại châu Á sẽ phải trả một cái giá đủ đắt, khiến những kẻ đe dọa phải trì hoãn mọi tham vọng của mình […]”

Như vậy, nhu cầu chính sách này giúp chúng ta lý giải những hoạt động hỗ trợ lớn mà Hoa Kỳ đưa ra cho gần như mọi quốc gia trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, dù đó là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hay Trung Hoa Dân Quốc.

Song với phong thái diều hâu kiểu cổ điển thường thấy của các chính trị gia Đảng Cộng hòa (tức rất khác với Nixon và Kissinger), Reagan không để cho Trung Quốc đại lục muốn làm gì thì làm.

Ví dụ, Reagan thể hiện rõ sự ủng hộ của mình dành cho Đài Loan khi bác bỏ hầu hết những yêu cầu mà Đặng Tiểu Bình đưa ra trong quá trình đàm phán Thông cáo chung năm 1982. Một trong số những yêu sách quan trọng của Đặng Tiểu Bình là Hoa Kỳ cần phải dừng hoàn toàn việc mua bán vũ khí với Đài Loan, một yêu cầu hiển nhiên không được chấp nhận.

Cũng trong năm này, Sáu Bảo đảm (Six Assurances) của chính quyền Hoa Kỳ dành cho Đài Loan cho thấy sự ủng hộ chắc chắn của Reagan dành cho những người bạn Trung Hoa Dân Quốc.

Trong Sáu Bảo đảm, có thể kể đến những điểm quan trọng như Hoa Kỳ sẽ không thay đổi các điều khoản của Đạo luật Quan hệ Ngoại giao với Đài Loan, và hơn hết là Hoa Kỳ sẽ không công nhận chủ quyền của đại lục đối với đảo Đài Loan. [13]

Với thời đại của Reagan, thế lưỡng nan giữa ủng hộ Đài Loan và nhu cầu đánh chặn Liên Xô (tức phải nhượng bộ Trung Quốc đại lục) được hóa giải bằng một thứ diễn ngôn của tự do. Nói cách khác, đánh chặn Liên Xô và nhượng bộ Trung Quốc phần nào không có nghĩa là đánh đổi tự do của bất kỳ đồng minh nào khác. [14]

Giai đoạn nắm quyền của Tổng thống Reagan là một trong những giai đoạn ngoại giao thành công cũng như tích cực nhất của Hoa Kỳ. Hiển nhiên, đây là kết quả cộng hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, nhưng với sự suy yếu thấy rõ của khối chủ nghĩa xã hội trong nhiệm kỳ của Reagan, người ủng hộ ông có quyền ghi nhận những điểm đúng đắn trong chính sách đối ngoại tăng cường sự hiện diện tại châu Á, cũng như sự cứng rắn của ông trước các yêu sách của Trung Quốc.

***

1989 – 1993: Vết nhơ Thiên An Môn của Bush cha

George H. W. Bush luôn được xem là người bạn lớn của Trung Quốc.

Từng là đại sứ không chính thức của Hoa Kỳ tại Trung Quốc trong thập niên 1970 khi hai quốc gia này chưa bình thường hóa quan hệ ngoại giao, cuộc sống của Bush (cha) ở Bắc Kinh và các mối quan hệ cá nhân của ông tại Trung Quốc (bao gồm cả với Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình) là nền tảng cho rất nhiều quyết sách ngoại giao của ông sau này.

Giới quan chức Trung Quốc thậm chí từng xem ông, đến thời điểm đó, là người bạn tốt nhất của Trung Quốc ngồi vào ghế ông chủ Nhà Trắng. [15] Song điều này cũng dẫn đến một vài hạt sạn không nhỏ.

Vấn đề được nhiều nhà quan sát ghi nhận nhất chính là cách mà vị tổng thống phản ứng trước sự kiện Thiên An Môn (1989). [16]

Trong giai đoạn này, đứng trước áp lực của giới chính trị Hoa Kỳ yêu cầu tạm ngừng các cơ chế đãi ngộ kinh tế cho Trung Quốc tại Hoa Kỳ, Bush gần như không làm gì cả.

Ngay năm sau, Trung Quốc thậm chí chính thức nhận được quy chế đãi ngộ kinh tế tối huệ quốc (Most Favored Nation – MFN) tại thị trường Hoa Kỳ, tạm hiểu là Trung Quốc sẽ được hưởng chính sách thuế quan và các đãi ngộ kinh tế khác tốt nhất hiện có tại đây.

Năm 1991, các quan chức cấp cao của chính quyền Bush cha đã xuất hiện trở lại tại Bắc Kinh và tìm kiếm các giải pháp để cải thiện mối quan hệ giữa hai quốc gia (và hiển nhiên, coi như sự kiện Thiên An Môn chưa từng tồn tại).

Nhìn chung, dù trong giai đoạn này George H. W. Bush không đưa ra những chính sách quá cực đoan hay khác biệt liên quan đến Đài Loan, thế cầm trịch đối với Trung Quốc trong giai đoạn Reagan bị từ bỏ. Và điều này vẫn là một trong những lý do lớn khiến giới chính trị Bắc Kinh rất có cảm tình với Bush.

***

1993 – 2001: Bill Clinton tiền hậu bất nhất

Tổng thống Bill Clinton từng dùng chính sách nhượng bộ và quá giao hảo của Bush (cha) dành cho Bắc Kinh như là một điểm yếu của chính quyền cũ.

Trong suốt chiến dịch tranh cử của mình, việc duy trì và mở rộng hệ thống dân chủ dựa trên thị trường tự do (market-based democracy), bảo vệ Đài Loan, và đặt ra cái giá cho các vi phạm nhân quyền của Trung Quốc đều được xem là những trụ cột chính trong chính sách đối ngoại của Bill Clinton.

Trong một bài phát biểu của mình trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc hồi năm 1993, vị tổng thống khẳng định: “Trong một kỷ nguyên mới đầy rủi ro nhưng cũng đầy cơ hội, mối quan tâm hàng đầu của chúng tôi là mở rộng và củng cố cộng đồng các nền dân chủ thị trường trên thế giới.” [17]

Tuy nhiên, khi mà các cải cách dân chủ của Đài Loan ngày càng thành công và hệ thống kinh tế thị trường của quốc đảo này ngày một hoàn thiện, chính quyền Clinton có vẻ lại sẵn sàng đối thoại và làm vừa lòng Trung Quốc nhiều hơn là ủng hộ và củng cố quan hệ với người bạn cũ.

Điều này có thể được ghi nhận thông qua một số sự kiện như Bill Clinton tham gia hội đàm hay thông báo cho Giang Trạch Dân trước khi đưa ra các quyết định mua bán vũ khí cho Đài Loan.

Ông cũng là vị tổng thống đầu tiên kể từ thời kỳ Nixon đưa ra những cam kết cá nhân rằng Hoa Kỳ sẽ không ủng hộ Đài Loan độc lập. [18]

Năm 1995, phía Hoa Kỳ cũng không đưa ra bất kỳ phản ứng gì sau khi chính quyền Bắc Kinh thử nghiệm tên lửa ở vùng biển phía Bắc Đài Loan, một hành động mà phía đại lục thường mô tả là sự nhún nhường của Clinton trước khả năng Trung Quốc tấn công và kiểm soát quân sự Đài Loan.

Thêm vào đó, sự kiện gây nhiều tranh cãi nhất liên quan đến Đài Loan trong giai đoạn này là quan điểm của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Mike McCurry.

Trong buổi họp báo thông báo kết quả của kỳ Đánh giá Chính sách Đài Loan năm 1994 (Taiwan Policy Review – 1994) của Nhà Trắng, khi được hỏi rằng chính quyền Clinton có công nhận Đài Loan là một phần của Trung Quốc hay không, vị phát ngôn viên trả lời: “Chắc chắn rồi. Đó là một yếu tố quan trọng của hầu hết các phiên bản của chính sách Một Trung Quốc mà Hoa Kỳ theo đuổi.” [19]

Như chúng ta đã phân tích kỹ ở trên, đây không phải là cách mà các chính quyền tiền nhiệm diễn giải “Một Trung Quốc”.

Các thông cáo và chính sách trước nay đều mô tả là Hoa Kỳ thừa nhận (acknowledge) quan điểm của chính quyền Trung Quốc (China’s position) cho rằng Đài Loan là một phần của lãnh thổ nước này. Việc có một chính khách Mỹ thừa nhận trực tiếp Đài Loan là một phần lãnh thổ Trung Quốc trước báo chí và truyền thông chính thức là rất hiếm gặp.

Hiển nhiên, một lần thừa nhận của một phát ngôn viên của chính quyền Clinton không làm thay đổi toàn bộ tầm nhìn chung của nhà nước Hoa Kỳ liên quan đến chính sách “mơ hồ chiến lược” đối với câu hỏi Đài Loan. Song nếu so sánh thì ngay cả chính quyền Bush (cha), người bạn thân của Trung Quốc, cũng chưa đi đến mức thừa nhận điều này. Vậy nên có thể nói trong giai đoạn nắm quyền, Bill Clinton đã tạo ra khá nhiều điểm nhượng bộ chính sách dành cho Trung Quốc liên quan đến câu hỏi Đài Loan.

***

2001 – 2008: Bush con tiếp bước cha

George W. Bush bắt đầu nhiệm kỳ của mình với rất ít mối quan tâm dành cho Đài Loan. Với sự kiện 11/9 và cuộc chiến chống khủng bố diễn ra suốt nhiều năm sau đó, Đài Loan chưa từng đứng đầu trong danh sách các ưu tiên ngoại giao của Hoa Kỳ.

Song điều này có khi cũng là điểm tốt cho chính quyền Đài Loan.

Họ dần tự chủ hơn, ít phụ thuộc vào Hoa Kỳ hơn trong vấn đề ngoại giao, và quan trọng nhất là hình thành nên được một tầm nhìn chung cho câu chuyện Đài Loan: độc lập hoàn toàn khỏi danh xưng Trung Hoa Dân Quốc.

Sự xuất hiện của Trần Thủy Biển (Chen Shui-bian – nắm quyền từ năm 2000 đến 2008) từ Dân Tiến Đảng (Democratic Progressive Party – DPP) có thể nói là điểm khởi đầu cho phong trào độc lập này.

Trần Thủy Biển và DPP là nhóm chính trị đầu tiên lật đổ vị thế thống trị của Quốc Dân Đảng sau 55 năm nắm quyền của đảng này ở đảo Đài Loan. Đi cùng với sự xuất hiện của DPP là một đường lối và yêu sách chính trị cứng rắn hơn – loại bỏ diễn ngôn Một Trung Quốc và đòi hỏi độc lập trên phương diện quốc tế cho Đài Loan.

Điều này, tuy rất có lợi cho việc xây dựng danh tính dân tộc riêng của Đài Loan, không nhận được nhiều sự ủng hộ từ chính phủ Bush.

Bất kỳ chính sách nào biểu hiện rõ nhu cầu Đài Loan độc lập hoàn toàn như của Trần Thủy Biển đều bị Washington cho là quá cực đoan và có thể gây tổn hại đến an ninh của eo biển Đài Loan.

Bất thành trong việc kiểm soát và gây ảnh hưởng lên Trần Thủy Biển, chính quyền Bush buộc phải nhiều lần ra mặt nhắc nhở công chúng Đài Loan rằng sự ủng hộ của Hoa Kỳ dành cho Đài Loan không phải là vô điều kiện. [20]

Bush cũng nhấn mạnh bất kỳ hành vi đơn phương nào của Đài Loan (ý chỉ việc tổ chức trưng cầu dân ý liên quan đến an ninh quốc gia, cũng như các chính sách hướng đến độc lập khác) sẽ là không thể chấp nhận.

Tuy nhiên, hành vi này của chính quyền Bush bị nhiều nhà nghiên cứu ngoại giao quốc tế chỉ trích, chẳng hạn như viện CATO. [21] Ted Galen Carpenter của viện này cho rằng đó không phải là cách mà Hoa Kỳ nên đối xử với một nền dân chủ. Không chỉ vậy, ông cũng cho rằng chính quyền Bush gần như không phàn nàn gì về những nỗ lực quân sự hóa nhắm đến Đài Loan của Bắc Kinh, như việc nhắm các dàn hỏa tiễn tầm trung vào hòn đảo này. Đài Loan ở thời điểm này đã là một nền dân chủ sống động, mạnh mẽ và thực chất. Người dân có quyền đưa ra quyết định đối với tương lai của mình.

***

2008 – 2016: Obama xoay trục nhưng ổn định?

Chính sách của Tổng thống Barack Obama đối với Đài Loan có thể được khái quát lại như sau: “Ủng hộ Đài Loan, nhưng không bài Trung Quốc” (Pro-Taiwan, but not anti-China).

Một trong những chính sách ngoại giao nổi tiếng nhất của Obama là chính sách xoay trục về châu Á, tức Hoa Kỳ sẽ khẳng định lại vai trò, sự hiện diện quân sự, cũng như tầm ảnh hưởng của mình đối với an ninh khu vực.

Tuy nhiên, đáng tiếc là những nỗ lực của Obama bị tấn công ở khá nhiều khía cạnh.

Ví dụ, các nhóm cấp tiến cho rằng Obama đã sai lầm khi đưa ra chính sách xoay trục về châu Á một cách quá công khai, và từ đó thách thức một Trung Quốc vốn đã có sẵn cảm giác bất an sau hàng loạt cuộc khủng hoảng về kinh tế nội địa lẫn rủi ro tranh chấp xã hội. Những bất ổn này thật ra vẫn còn hiện diện cho đến ngày nay. [22] Xoay trục tại thời điểm như vậy không chỉ thách thức Trung Quốc mà còn dồn họ vào chân tường.

Tuy nhiên, cũng có nhà nghiên cứu cho thấy không có gì đáng phải phàn nàn. Mayang A. Rahawestri trên tạp chí Security Challenges quan sát và cho rằng Obama cũng chỉ đi tiếp định hướng chính sách mà các đời tổng thống trước để lại. [23]

Nhìn về các sự kiện, đúng là Obama không cố gắng tạo ra bất kỳ chính sách nào về Trung Quốc – Đài Loan quá khác biệt hay quá nắn gân so với các đời tổng thống khác, đặc biệt nếu so với giai đoạn cứng rắn của Reagan.

Ông tiếp tục cho thấy mình sẽ ủng hộ chính quyền dân chủ tại Đài Loan, bảo đảm an ninh cho quốc đảo trước bất kỳ động thái quá khích nào từ Bắc Kinh.

Trong một tuyên bố năm 2008 về vấn đề Trung Quốc, Obama khẳng định: “Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để ủng hộ nền dân chủ Đài Loan trong những năm tới.” [24]

Trong những động thái chứng minh cho cam kết này, chắc chắn phải kể đến việc ông phê chuẩn gói mua bán vũ khí trị giá đến hàng tỷ Mỹ kim cho Đài Bắc trong năm 2015. [25] Nói cách khác, Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ để Đài Loan tự thân hùng cường về mặt quân sự để ngăn chặn bất kỳ kỳ vọng bành trướng nào từ đại lục.

Tuy nhiên, điều này không nên được hiểu là Obama sẽ ủng hộ các bước đi thiếu cẩn trọng trong các yêu sách độc lập của Đài Loan. [26]

Một Trung Quốc vẫn sẽ là chính sách hàng đầu, và dù nó có mơ hồ đến như thế nào đi chăng nữa, có một điều chắc chắn là Hoa Kỳ trong thời kỳ Obama không mạo hiểm đầu tư vào phong trào Đài Loan độc lập về mặt pháp lý.

Nhìn chung, dù có nhiều chỉ trích về cách mà Obama nhún nhường chính quyền Bắc Kinh, giai đoạn nắm quyền của ông là một giai đoạn bình ổn và có lợi cho sự phát triển về chiều sâu lẫn chiều rộng của các mặt trận dân chủ tại Đài Loan. Điều này thật ra cũng là một điều rất tốt.

***

2016 – nay: Thái Bình Dương vô định

Từ năm 2016 đến nay, chúng ta có hai vị tổng thống Hoa Kỳ được tô vẽ hoàn toàn trái ngược nhau.

Một bên là Donald Trump, đại diện cho sự hỗn loạn, những thay đổi khó dự báo trước, cùng những phát biểu trời ơi.

Một bên là Joe Biden, đại diện cho truyền thống, sự ổn định, và những tính toán ngoại giao kỹ lưỡng.

Đó là quan điểm của báo chí phương Tây nói chung cho đến khi họ nhận ra cả hai vị tổng thống đều đang đi cùng một con đường về vấn đề Đài Loan.

Sau khi phát động chiến tranh thương mại với Trung Quốc, Trump có thể được xem là anh hùng của rất nhiều người dân Đài Loan. [27]

Ông cũng là tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên chấp nhận điện đàm với Tổng thống Đài Loan Thái Văn Anh, là tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên từ bỏ chính sách không hội đàm cấp cao với Đài Loan, và cũng là tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên cho Hải quân đến thăm, làm việc và tập trận với Đài Loan đến 13 lần (so với chỉ ba lần của Obama và con số 0 của khá nhiều tổng thống trước đó).

Hiển nhiên, nhìn vào các quyết định của Tổng thống Trump thì nhiều người sẽ nghĩ ông ám ảnh với danh xưng “tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên” hơn là mang đến bất kỳ thay đổi hay lợi ích cụ thể nào.

Tuy nhiên, có một sự thật là với việc Trump thách thức Trung Quốc và thậm chí tuyên chiến thương mại với Trung Quốc, chính trường Hoa Kỳ đột ngột có thay đổi: Họ nhận ra rằng Hoa Kỳ hoàn toàn có thể đối đầu và răn đe trực diện Bắc Kinh, và Bắc Kinh cũng cho thấy họ yếu bóng vía về cả chính trị lẫn kinh tế hơn các chính trị gia Washington từng nghĩ.

Tổng thống Biden, vì vậy, có cách tiếp cận về vấn đề Trung Quốc – Đài Loan gần với Trump hơn là gần với Obama. Và thậm chí là toàn bộ chính quyền Hoa Kỳ đều đồng ý với điều này.

Họ nhìn thấy một cơ hội trong suy thoái kinh tế, trong cuộc khủng hoảng chuỗi cung ứng toàn cầu giai đoạn COVID-19, và kế đó là cuộc chiến Ukraine: đối đầu trực diện và mở rộng cơ chế kiểm soát sức mạnh võ biền của các quốc gia quân sự như Nga. Đài Loan – với vị thế dẫn đầu trên thị trường công nghệ thế giới – trở thành một ưu tiên không thể bỏ qua của chính quyền Hoa Kỳ. Cho đến nay, Biden giữ lại hầu hết các quyết sách liên quan đến Đài Loan của Trump.

Nhưng nói như vậy không có nghĩa chúng ta chỉ thấy màu hồng của tương lai Thái Bình Dương.

Với một Hoa Kỳ cứng rắn hơn, một Đài Loan nhiều hy vọng hơn và một Trung Quốc đang gặp quá nhiều vấn đề, nguy cơ xung đột vẫn treo lơ lửng đâu đó. Song dù thế nào đi chăng nữa, một Đài Loan vững mạnh và độc lập có lẽ là mong muốn và kỳ vọng của không ít người Việt Nam.

Chú thích

1. 台北時報. (2020, March 5). Taiwan and the United Nations – Withdrawal in 1971 was an historic turning point. Taipei Times. https://www.taipeitimes.com/News/local/archives/2001/09/12/0000102595

2. JOINT COMMUNIQUE BETWEEN THE UNITED STATES AND CHINA, February 27, 1972, Xem nguyên văn tại Wilson Center Digital Archive: https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/121325

3. Huang, C. (2020, May 11). Normalization Communique (1979). Formosan Association for Public Affairs. https://fapa.org/normalization-communique-1979/

4. H.R.2479 – 96th Congress (1979–1980): Taiwan Relations Act. (1979). Congress.Gov | Library of Congress. https://www.congress.gov/bill/96th-congress/house-bill/2479

5. Bella, T. (2022, May 24). Kissinger says Ukraine should cede territory to Russia to end war. The Washington Post. Retrieved September 25, 2022, from https://www.washingtonpost.com/world/2022/05/24/henry-kissinger-ukraine-russia-territory-davos/

6. Holdridge, John, Crossing the Divide: An Insider’s Account of Normalization of U.S. -China Relations (Rowman & Littlefield Publishers, 1997), trang 90.

7. White House, Memorandum of Conversation, February 22, 1972

8. Levine, S. I. (1978). China Policy during Carter’s Year One. Asian Survey, 18(5), 437–447. https://doi.org/10.2307/2643458

9. Milestones: 1977-€“1980 China Policy. (2022). Office of the Historian. https://history.state.gov/milestones/1977-1980/china-policy

10. Garrison, J. A. (2002). Explaining Change in the Carter Administration’s China Policy: Foreign Policy Adviser Manipulation of the Policy Agenda. Asian Affairs, 29(2), 83–98. http://www.jstor.org/stable/30172543

11. Downen, Robert L. “REAGAN POLICY OF STRATEGIC COOPERATION WITH CHINA: IMPLICATIONS FOR ASIAN-PACIFIC STABILITY.” The Journal of East Asian Affairs, vol. 2, no. 1, 1982, pp. 43–69.

12. Republican Platform, Proposed by the Committee on Resolutions to the Republ National Convention, July 14, 1980, Detroit, Michigan

13. Managing the Status Quo: Continuity and Change in the United States’ Taiwan Policy. (2021). GIGA Focus Asia. https://www.giga-hamburg.de/en/publications/giga-focus/managing-status-quo-continuity-change-united-states-taiwan-policy

14. Nicholas G. Hahn III (2007) Reagan-Sino Legacy: Relations of the United States and China in the 1980s, Washington Institute of China Studies, Vol. 2 No. 2

15. George, B. C. W. A. S. (2018, December 2). How George H.W. Bush became Beijing’s “old friend” in the White House. CNN. https://edition.cnn.com/2018/12/01/asia/george-h-w-bush-china-intl

16. Everington, K. (2018, December 3). George HW Bush’s muted response to Tiananmen Massacre greatest US China policy failure: Scholar. Taiwan News. https://www.taiwannews.com.tw/en/news/3588537

17. Bill Clinton, “Confronting the Challenges Of a Broader World,” U.S. Department of State

18. Josh Carter (2001) Turning Away: The Clinton Administration’s Taiwan Policy, Student Journal of Politics. https://cpb-us-w2.wpmucdn.com/about.illinoisstate.edu/dist/e/34/files/2019/09/jcarter.pdf

19. Mike McCurry, “State Department Regular Briefing,” Federal News Service, 8 September 1994

20. Sutter, Robert. “The Taiwan Problem in the Second George W. Bush Administration-US Officials’ Views and Their Implications for US Policy.” The Journal of Contemporary China, vol. 15, no. 48, 2006, pp. 417–41, https://doi.org/10.1080/10670560600736426.

21. T.G.C. (2004). President Bush’s Taiwan Policy: Immoral and Dangerous. CATO Institute. https://www.cato.org/commentary/president-bushs-taiwan-policy-immoral-dangerous#

22. Ross, R. S. (2012). The Problem With the Pivot: Obama’s New Asia Policy Is Unnecessary and Counterproductive. Foreign Affairs, 91(6), 70–82. http://www.jstor.org/stable/41720935

23. Rahawestri, M. A. (2010). Obama’s Foreign Policy in Asia: More Continuity than Change. Security Challenges, 6(1), 109–120. http://www.jstor.org/stable/26459473

24. Organizing for America, ‘Barack Obama and Joe Biden: Protecting US Interests and

25. Brunnstrom, D. P. Z. (2015, December 17). Obama administration authorizes $1.83-billion arms sale to Taiwan. Reuters. https://www.reuters.com/article/us-usa-taiwan-arms-idUSKBN0TZ2C520151217

26. 台北時報. (2020a, March 3). Obama to retain Taiwan policy. Taipei Times. https://www.taipeitimes.com/News/taiwan/archives/2008/11/06/2003427863

27. How Biden is Building on Trump’s Legacy in Taiwan. (2021). Center for Strategic and International Studies. https://www.csis.org/blogs/new-perspectives-asia/how-biden-building-trumps-legacy-taiwan

Thẻ: Bài miễn phíBáo tháng 10-2022Đài LoanMột Trung QuốcTrung Quốc
Nguyễn Quốc Tấn Trung

Nguyễn Quốc Tấn Trung

Bài được đọc nhiều

10 sự kiện tôn giáo nổi bật trong năm 2025

10 sự kiện tôn giáo nổi bật trong năm 2025

Năm 2025 là năm đã chứng kiến nhiều sự kiện tôn giáo...

Tăng trưởng GDP đạt 8,02% trong năm 2025: Thành tựu ngắn hạn, thử thách dài hạn

Tăng trưởng GDP đạt 8,02% trong năm 2025: Thành tựu ngắn hạn, thử thách dài hạn

Tăng trưởng GDP 8,02% năm 2025 trong bối cảnh kinh tế toàn...

Vụ việc “Về đây bốn cánh chim trời”: có hay không việc hình sự hóa tùy tiện?

Vụ việc “Về đây bốn cánh chim trời”: có hay không việc hình sự hóa tùy tiện?

Liệu chính quyền có đang hình sự hóa tùy tiện các quan...

Luật Khoa tạp chí

  • Về chúng tôi
  • Tuyển dụng
  • Cộng tác
  • Đề xuất đề tài
  • Liên lạc với Luật khoa
  • Gửi bài

Welcome Back!

Sign In with Google
OR

Login to your account below

Forgotten Password? Sign Up

Create New Account!

Sign Up with Google
OR

Fill the forms bellow to register

All fields are required. Log In

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In

Add New Playlist

1462/3000 Member trước 6/2026

Không có kết quả nào
Xem tất cả kết quả
ĐĂNG KÝ GÓI TRẢ PHÍ

  • 1975 Supporter
  • Bạn hỏi, Luật Khoa trả lời
  • Banner Test Page
  • Báo lỗi
  • Bao Thang Test Page
  • Chương trình Tặng Báo: Luật Khoa kêu gọi tài trợ phí đọc báo cho học sinh – sinh viên
  • Cộng tác với Luật Khoa
  • Contact
  • Đăng ký thư tin
  • Đăng nhập
  • Đăng nhập
  • Đề xuất đề tài
  • Gửi bài
  • Hãy đăng ký thành viên để tải báo
  • Header Test Page
  • Home 1
  • Liên lạc
  • Luật Khoa tạp chí
  • Membership
  • Membership [OLD ELEMENTOR]
  • Membership Checkout Level 27 Test
  • Membership Pricing
  • Membership Registration
  • Membership Test Page
  • Membership ThankYou
  • My Account
  • Newsletter
  • Sample Page
  • Tài khoản gói thành viên
    • Chúc mừng bạn đã đăng ký thành công!
  • Thoi su test page
  • Trang tài khoản
    • Hồ sơ của bạn
    • Hóa đơn
    • Hủy thanh toán
    • Membership Billing
Are you sure want to unlock this post?
Unlock left : 0
Are you sure want to cancel subscription?