Bài viết này nằm trong số báo tháng Mười Một năm 2022 của Luật Khoa tạp chí, được phát hành lần đầu trên ấn bản PDF đề ngày 3/11/2022.
Nói hơi ngoa một chút thì ở nước ta, khi nào không còn gì để đọc thì người ta mới đọc Hiến pháp. Thế nhưng nỗ lực tuyên truyền của Đảng Cộng sản cũng như thông tin “ngoài luồng” đã giúp một điều khoản trong Hiến pháp trở nên nổi tiếng: Điều 4.
Nói “Điều 4” là người ta đủ hiểu nói đến cái gì, đó chính là điều khoản hiến định hóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cái này cũng giống như bên Mỹ, thay vì nói quyền tự do ngôn luận thì người ta nói “quyền theo Tu chính án thứ Nhất”, thay vì nói quyền sở hữu súng thì người ta nói “quyền theo Tu chính án thứ Hai”, rồi thay vì nói tôi từ chối cung khai thì người ta nói “I take the Fifth”, ý chỉ là Tu chính án thứ Năm của Hiến pháp Mỹ vốn đảm bảo quyền im lặng cho những người bị chính quyền lấy lời khai.
Điều 4 nay không những đã là một nguyên tắc lập hiến quan trọng bậc nhất, mà còn trở thành một phần của văn hóa chính trị nước ta. Nó là thứ người ta có thể nghe được ở vỉa hè, và với từ vỉa hè, tôi bao gồm cả không gian Internet, bởi Internet ở nước ta đích thực là một loại vỉa hè ngôn luận và không được tính là không gian thảo luận chính thống.
Thế nhưng tự bao giờ mà Điều 4 xuất hiện và được nói nhiều đến như vậy?
Mọi sinh viên luật – nếu học đàng hoàng môn luật hiến pháp – đều biết nó xuất hiện từ Hiến pháp 1980. Nhưng chớ dừng lại ở việc chỉ đọc bản văn hiến pháp mà hãy tìm hiểu thêm qua nghiên cứu có tên “Constitutionalizing Single Party Leadership in Vietnam: Dilemmas of Reform” của Tiến sĩ Bùi Hải Thiêm – Viện Nghiên cứu Lập pháp, được đăng trên tạp chí Asian Journal of Comparative Law năm 2016. [1]
Để dễ dàng tìm hiểu vấn đề hơn thì chúng ta có thể điểm qua các bản hiến pháp mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng ban hành (hoặc là có vai trò quyết định trong việc ban hành): Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001 bằng Nghị quyết 51), và Hiến pháp 2013.
Hãy trở lại năm 1959: Đảng Cộng sản – khi đó có tên là Đảng Lao động – đã nắm quyền lực tuyệt đối ở miền Bắc, quyết tâm theo đuổi chủ nghĩa xã hội theo mô hình của Liên Xô và Trung Quốc. Vậy thì có lý do gì mà không hiến định hóa vai trò lãnh đạo của đảng luôn mà phải chờ đến tận năm 1980?
Theo nghiên cứu kể trên, mặc dù chỉ chính thức xuất hiện từ Hiến pháp 1980, nhưng mầm mống của ý định xác lập vai trò lãnh đạo của đảng thực ra đã nảy sinh từ Hiến pháp 1959, cũng tại Điều 4. [2] Ta hãy đọc:
|
Hiến pháp 1959 | Điều 4
|
Điểm đáng chú ý ở đây là việc hiến định hóa nguyên tắc tập trung dân chủ – một nguyên tắc tổ chức đảng cách mạng/ đảng cộng sản do Lênin đề ra. Nguyên tắc này cơ bản gồm hai phần: (1) thảo luận tự do trong nội bộ đảng, tức là dân chủ và (2) một khi đã thông qua đường lối, chủ trương, chính sách của đảng rồi thì phải tuyệt đối tuân theo, không bàn lại, tức là tập trung. Để thực hiện thì nó đòi hỏi cá nhân phải phục tùng tập thể, thiểu số phải phục tùng đa số, và cấp dưới phải phục tùng cấp trên.
Nếu đọc toàn văn Hiến pháp 1959, ta sẽ còn thấy rằng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (khi đó có tên là Đảng Lao động Việt Nam) – dù không được đưa vào điều khoản nào – đã được nhắc đến trong phần Lời nói đầu: “Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết rộng rãi trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nhất định sẽ giành được những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện thống nhất nước nhà.”
Tác giả Bùi Hải Thiêm cho rằng, vào thời điểm 1959, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn có thể hiến định hóa sự lãnh đạo của đảng, tương tự như Điều 126 của Hiến pháp Liên Xô 1936. Thế nhưng, do mục tiêu thống nhất đất nước được ưu tiên trong thời kỳ này, Đảng Lao động đã không đi xa đến mức như vậy, với mục đích huy động được nhiều thành phần khác nhau trong quần chúng, nhất là ở miền Nam.
Cách lý giải này rất phù hợp với logic vận hành của Đảng Cộng sản suốt từ năm 1941 với việc thành lập Mặt trận Việt Minh, rồi tuyên bố tự giải tán năm 1945, rồi khi ra hoạt động công khai trở lại năm 1951 thì không lấy tên Đảng Cộng sản mà lấy tên Đảng Lao động. Họ phải giấu thân phận cộng sản của mình để tranh thủ được sự ủng hộ của các lực lượng phi cộng sản trong xã hội.
Nhưng hoàn cảnh năm 1980 thì hoàn toàn khác.
Đó là khi Đảng Lao động đã hoàn tất mục tiêu thống nhất đất nước (1975), đổi tên đảng thành Đảng Cộng sản (1976), và đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1976). Một trong những việc còn lại họ cần làm để khẳng định vị thế độc quyền và bản chất ưu việt là hiến định hóa sự lãnh đạo của chính mình. Và thế là Điều 4 Hiến pháp 1980 ra đời:
|
Hiến pháp 1980 | Điều 4
Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp. |
TS. Bùi Hải Thiêm chỉ ra rằng, điều khoản này trùng khớp với Điều 6 của Hiến pháp Liên Xô 1977.
Điều cần lưu ý ở đây là cụm từ “duy nhất”. Cho tới nay, có lẽ hầu hết công chúng – bao gồm cả giới trí thức và các nhà hoạt động chính trị nói chung – vẫn nói đến Điều 4 theo cách hiểu của Hiến pháp 1980, trong khi ở các bản hiến pháp sau không còn từ “duy nhất” trong Điều 4 nữa.
Và đó là một lịch sử ngắn về điều khoản nổi tiếng nhất trong các bản hiến pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam.
|
Hiến pháp 1992 | Điều 4: Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
|
|
Hiến pháp 2013 | Điều 4 1. Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. |
Chú thích
1. BUI, T. H. (2016, November 23). Constitutionalizing Single Party Leadership in Vietnam: Dilemmas of Reform. Asian Journal of Comparative Law, 11(2), 219–234. https://doi.org/10.1017/asjcl.2016.22
2. Hiến pháp 1959 Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Thuvienphapluat.vn. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Hien-phap-1959-Viet-Nam-Dan-Chu-Cong-Hoa-36855.aspx
