Trần Trọng Kim được biết đến với tư cách thủ tướng của chính phủ Đế quốc Việt Nam năm 1945. Đánh giá về khoảng thời gian tại vị ngắn ngủi của ông, giới trí thức – cộng sản lẫn không cộng sản – chẳng tiếc lời thóa mạ như bù nhìn, Việt gian, theo Nhật, v.v.
Thật ra, người trí thức đương thời vốn dĩ có niềm tin không giống chính trị gia hay tầng lớp công nông. Do đó, lúc thế cuộc nhiễu nhương, sự lựa chọn chính trị của họ có thể dẫn đến những phán duyệt lịch sử. Tuy nhiên, nếu nhìn về cách thức đóng góp và ý tưởng dựng xây xã hội, xét ở bối cảnh “thời thế thế thời phải thế”, thì bậc thức giả như Trần Trọng Kim vẫn còn nhiều điều đáng được trân trọng.
Năm 1884, một năm sau thời điểm học giả Trần Trọng Kim chào đời, người Pháp và triều đình Huế ký hòa ước cuối cùng. Từ đây, nền bảo hộ chính thức xác lập, “cái ấn của Tàu phong cho vua Việt Nam” bị hủy đi, mối quan hệ lệ thuộc vào thiên triều Trung Hoa chấm dứt, khối thống nhất quốc gia bị phân rã, lịch sử phải sang trang. Mặc dù vậy, học vấn và cảm tình của người nước ta vẫn theo lề thói của một nước triều cống, vẫn phụ thuộc “lối biên niên của Tàu”. Mãi duy trì tình trạng như thế, theo học giả Trần Trọng Kim, thì làm sao mới “hiểu cho rõ những vận hội trị loạn của một nước”?
Vả lại, sử Nam xưa nay viết bằng chữ Nho, mà chữ Nho ngày một kém đi, chữ quốc ngữ đang dần phổ biến, vì vậy yêu cầu cải cách nền sử học nước nhà đã trở nên cấp thiết, giúp cho việc học sử tiện lợi hơn trước, thúc đẩy sự tiến bộ của quốc dân, chứ không chỉ suốt ngày bàn chuyện vua quan triều đình. Hưởng ứng xu thế này, Trần Trọng Kim là một tri thức góp sức tiên phong.
