Đạo Cao Đài là tôn giáo bản địa, dung hợp nhiều yếu tố từ các tôn giáo lớn trong thần học của mình như Cơ Đốc giáo, Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo.
Dù đại diện cho một ý thức hệ dân tộc chủ nghĩa hay một tôn giáo mới có sức hấp dẫn lớn nhưng sự mở rộng của đạo Cao Đài trong phạm vi công chúng Việt Nam đã dẫn đến việc các nhóm tín đồ Cao Đài chia rẽ thành các nhánh hay chi phái khác nhau. Cũng từ đó, chúng dẫn đến quá trình tập hợp các thành phần quyền lực, lợi ích chính trị và chiến lược khác nhau.
Vì vậy, các phe phái bên trong Cao Đài tất nhiên không thoát được thế cuộc nhiễu nhương và buộc phải lựa chọn ngặt nghèo trong thời Nhật chiếm đóng (1941-1945), chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954), chiến tranh Đông Dương lần thứ hai hay Chiến tranh Việt Nam (1955-1975). Những xung đột liên hồi làm rung chuyển hệ thống thần học ủng hộ hòa bình và các giá trị về “tình huynh đệ phổ quát” của đạo Cao Đài.
Trong giai đoạn 1940 – 1965, các nhà lãnh đạo Cao Đài đã phải đưa ra nhiều lựa chọn quan trọng liên quan đến vấn đề đấu tranh vũ trang, hợp tác chiến lược, lựa chọn đồng minh và cả về phương diện ngoại giao. Vậy họ đã lựa chọn như thế nào?
Trong bài viết này, người viết xin giới thiệu nghiên cứu “Caodaism in Times of War: Spirits of Struggle and Struggle of Spirits” (tạm dịch Đạo Cao Đài thời chiến: Tinh thần tranh đấu và Đấu tranh cho tinh thần) của tác giả Jérémy Jammes, được đăng tải trên Journal of Social Issues in Southeast Asia (Tạp chí Các vấn đề xã hội ở Đông Nam Á). [1]
Trong nghiên cứu của mình, tác giả giải quyết các câu hỏi về sự tác động của những xung đột vũ trang đến các nhà lãnh đạo đạo Cao Đài, các công cụ quyền lực mà họ sử dụng để đối phó với bạo loạn trong thời chiến, chiến lược chính trị và nỗ lực của họ trong việc hạn chế những nguy cơ về an ninh, cùng kế hoạch thống nhất dân tộc của mình.

