Phật giáo Hòa Hảo (PGHH) là tôn giáo dựa trên nền tảng đạo Phật, chủ yếu khuyến khích tu tại gia, song song với việc nhập thế. PGHH xuất hiện ở miền Nam Việt Nam vào cuối những năm 1930, được phát triển và phổ biến bởi Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ.
Sau nhiều thăng trầm, đến khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc vào năm 1975, cộng đồng Phật giáo tự trị này nỗ lực biến mình thành một tôn giáo được công nhận hợp pháp trong lúc Đảng Cộng sản Việt Nam đang khẩn trương thành lập một nhà nước hợp nhất mang tên Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam vào năm 1976.
Quá trình chuyển đổi chế độ làm thay đổi hoàn toàn bản chất của mối quan hệ nhà nước – giáo hội trước đó. Và khá dễ hiểu khi miền Nam Việt Nam trải qua một giai đoạn dài bị kiểm soát và giới hạn hoạt động tôn giáo cơ bản.
Mãi đến năm 1991, chính sách tôn giáo mới được định hướng lại, nhà nước chính thức thừa nhận một số lợi ích xã hội của các nhóm tôn giáo.
Những cuộc tranh luận cũng từ đó bắt đầu nổ ra. Các hoạt động xã hội của các nhóm tôn giáo mà cụ thể là PGHH phục vụ mục tiêu gì? Liệu các tổ chức tôn giáo còn vị trí pháp lý như xưa?
Trong nghiên cứu có tên “Being engaged in the World (“Nhập thế”) and the secular state in 20th century Vietnam. Approaching two notions through Hòa Hảo Buddhism history” công bố trên tạp chí Theory and Society ngày 30/06/2022, tác giả Pascal Bourdeaux cũng đặt ra câu hỏi về sự tương tác giữa quan điểm nhập thế của các nhóm tôn giáo hiện đại và quan điểm nhà nước trung lập thế tục trong những thập kỷ qua tại Việt Nam. [1]
Tác giả tập trung nghiên cứu việc thực thi hoạt động xã hội của PGHH từ những năm 1940 đến nay để nhấn mạnh sự phát triển của các hoạt động xã hội này dưới các chế độ chính trị khác nhau. Thông qua đó, chúng ta có thể tìm hiểu khái niệm “văn hóa phụng sự xã hội kiểu mới” (a new culture of social service) đã được phát huy và đem lại những thành tựu như thế nào kể từ khi thánh địa chính thức của PGHH được công nhận vào năm 1999.

