Học giả Nguyễn Hiến Lê (1912 – 1984) đã khá quen thuộc với độc giả trong thời gian gần đây. Ông lớn lên ở miền Bắc Việt Nam, sinh ra trong một gia đình Nho học, trưởng thành dưới hệ thống giáo dục Đông Dương thuộc Pháp, rồi định cư ở miền Nam đến lúc qua đời. Ông là một trí thức miệt mài và bền bỉ với văn hóa. Đầu những năm 1950, Nguyễn Hiến Lê thôi dạy học tại vùng tản cư, chính thức lên Sài Gòn để trọn đời theo văn nghiệp.
Dù là dưới chế độ Sài Gòn hay chế độ cộng sản, dù là lúc thanh bình tạm thời hay lúc binh lửa nguy nan, học giả Nguyễn Hiến Lê cũng để lại những trước tác đồ sộ và đặc sắc, trải dài trên nhiều lĩnh vực: giáo dục, cảo luận, dịch thuật, triết học, văn học, sử học, v.v. Hai năm trước khi lìa trần, ông vẫn không thôi sáng tác.
Tác phẩm “Sử Trung Quốc” (3 cuốn) hoàn thành năm 1982 được đánh giá là công trình công phu cuối đời của học giả, bao quát toàn cảnh lịch sử chính trị, tư tưởng và xã hội Trung Quốc từ khởi thủy đến hiện đại. Trong tác phẩm, Nguyễn Hiến Lê không hề lặp lại lối phân kỳ lịch sử của các nhà sử học phương Tây. Ông chia lịch sử Trung Quốc thành ba giai đoạn: (1) từ thời nguyên thủy tới phong kiến, (2) từ thời quân chủ khởi đầu bởi nhà Hán đến Cách mạng Tân Hợi (1911), (3) thời dân chủ từ Cách mạng Tân Hợi đến giai đoạn đảng trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Khác biệt hoàn toàn với mô típ tự sự và cách truyền tải lịch sử nghèo nàn, một chiều, dùng lối ngôn ngữ khoa trương và sáo rỗng của chế độ chính trị và hệ thống giáo dục Việt Nam năm 1982, thời điểm mà những người cộng sản tự nhận là “chói lọi nhất”, Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê vẫn trung thành với lỗi diễn sử chân phương mà độc đáo, vẫn giữ nguyên phong cách điềm nhiên, sang trọng, lịch duyệt, giàu sức sống và không xu thời, từ đó lưu giữ trọn vẹn vẻ đẹp “hoa đào năm cũ” của một tâm hồn trí thức đáng nể trọng.

