Sau khi Tăng Cách Lâm Thấm bại trận, liên quân Anh – Pháp tràn vào Bắc Kinh đốt phá, vua Hàm Phong đào thoát về Nhiệt Hà và ủy thác cho Cung Thân Vương hòa đàm với Tây dương. Triều đình nhà Thanh phải ký vào bản Hiệp ước Bắc Kinh năm 1860. Tuy điều này giúp chấm dứt cuộc Chiến tranh Nha phiến lần thứ hai nhưng lại khiến Trung Quốc tiếp tục trượt dài trong thời kỳ “bách niên quốc sỉ”.
“Tình hình căng thẳng đã được tháo gỡ, quân đội của hai cường quốc Anh – Pháp được rút lui. Lực lượng hải quân và một phần quân viễn chinh trở thành lính trừ bị” – sĩ quan người Pháp Léopold Pallu ghi như vậy trong bút ký của mình. Sự kiện liên quân Tây dương thắng lợi nhanh chóng trước thiên triều là một mối nguy cấp cận kề đối với tình thế của nước chư hầu như An Nam.
Cuộc viễn chinh gấp rút nhưng thận trọng
Quả nhiên, quân viễn chinh Pháp nhàn rỗi chưa lâu thì Hoàng đế Napoléon III (1808 -1873) đã giao cho Phó Đô đốc Charner cắt đặt quân bị cố thủ vùng hiện chiếm (ở Trung Quốc) và chỉnh đốn hải quân viễn chinh phương Nam.
Nhắc lại một chút về chiến sự nước Nam. Sau phát súng xâm lược bắn vào cửa biển Đà Nẵng hồi năm 1858, thấy tình hình chiến dịch không thuận lợi và quân dân An Nam chống trả oanh liệt, quân Pháp đành chuyển hướng tiến công Nam Kỳ, rồi bị sa lầy tại đây, cầm cự chờ ngày Charner đến ứng chiến và công phá Đại đồn Chí Hòa.
Trong hành trình điều quân của Charner vào năm 1860 có Léopold Pallu góp mặt. Với góc nhìn của một sĩ quan thực dân, ông đã ghi nhận đầy đủ và chi tiết hoạt động quân sự quy mô lớn kế tiếp của người Pháp ở Nam Kỳ trong quyển sách “Nam Kỳ viễn chinh ký 1861”, gồm 10 chương.
