Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã mở ra nhiều bi kịch cho người dân miền Bắc. Trong số này, các tín đồ tôn giáo, nhất là người theo đạo Tin Lành, phải chịu đựng chính sách hạn chế tôn giáo kéo dài gần 50 năm.
Sau năm 1975, thành tựu của đạo Tin Lành tại miền Nam cũng sụp đổ theo chính quyền Sài Gòn.
Cho đến nay, lịch sử về đạo Tin Lành ở miền Bắc sau năm 1954, và trên cả nước sau năm 1975 là điều chính quyền muốn người dân quên đi. Tuy vậy, cuộc đàn áp đạo Tin Lành vẫn đang diễn ra ở những khu vực của người dân tộc thiểu số sinh sống.
Miền Bắc phát lương cho mục sư
Đạo Tin Lành truyền vào Việt Nam từ năm 1911, muộn hơn Hàn Quốc gần 30 năm. Đến năm 1945, một tôn giáo mới như đạo Tin Lành đã có 15.000 tín đồ, và tăng lên gấp bốn lần vào năm 1954. [1]
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, dù không “tắm máu” tín đồ Tin Lành như chính quyền Triều Tiên đã làm khi ấy, nhưng chính quyền miền Bắc Việt Nam đã khiến tôn giáo này sống một cách thoi thóp.
Sau cuộc di dân vào miền Nam, các số liệu thống kê cho thấy miền Bắc chỉ còn gần một nghìn tín đồ Tin Lành, và một số nhỏ các mục sư và truyền đạo sư. [2] Năm 1964, chính quyền bắt đầu phát lương cho các mục sư và truyền đạo sư, nhưng hầu hết họ vẫn phải làm nhiều công việc tay chân để kiếm sống. Hội thánh bị cấm tổ chức truyền giảng. [3]
Trong thời kỳ này, miền Bắc hạn chế tối đa các hoạt động tôn giáo dành cho người trẻ. [4]
Hoạt động đào tạo giảng sư bị hạn chế. Một khóa được tổ chức vào năm 1962 với 5 người tốt nghiệp, trong đó có hai người già, đến 26 năm sau khóa tiếp theo mới được phép tổ chức. [5]

