Trong các thảo luận liên quan đến án tử hình của tù nhân Nguyễn Văn Chưởng, vấn đề bãi bỏ án tử hình nói chung của hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam được nhấn mạnh như một định hướng đương nhiên trong tiến trình phát triển của công lý thế giới.
Có nhiều lý do được viện dẫn để kiến nghị bỏ hoàn toàn hình thức trừng phạt này, và không phải mọi biện giải đều thuyết phục người viết. Bản thân người viết vốn chịu ảnh hưởng từ các lý thuyết công lợi cổ điển (classical utilitarianism) hay kể cả các lý thuyết đạo đức của Kant (Kantian ethical philosophy), chưa bao giờ hoàn toàn đồng tình với việc loại bỏ án tử hình ra khỏi hệ thống tư pháp hình sự quốc gia.
Đến cuối cùng, nếu cho rằng mục tiêu tối thượng của một quốc gia là sự ổn định và an toàn cho người dân, tấm gương của Singapore và Nhật Bản (hai quốc gia châu Á nằm trong nhóm 10 nước dẫn đầu bảng xếp hạng an toàn thế giới, theo số liệu của Global Peace Index) cho thấy một tương lai khả dĩ trong việc áp dụng án tử hình để trừng phạt tội ác đặc biệt nghiêm trọng, việc này như là một phần trong các cam kết an sinh của các quốc gia mới nổi tại châu Á.
Tuy nhiên, bài viết này không nhằm ủng hộ việc duy trì án tử hình. Ngược lại, bài viết muốn giới thiệu đến bạn đọc một vấn đề đã buộc một người ủng hộ duy trì án tử hình như người viết cân nhắc lại quan điểm của mình, đó là vấn đề liên quan đến Death row phenomenon (tạm dịch: cực hình tâm lý đối với tử tù).
***
Death row phenomenon được giới thiệu lần đầu tiên với giới nghiên cứu quốc tế bởi David P. Blank như là một học thuyết pháp lý vào năm 1995 (thông qua việc bình luận quyển sách Live on the Death Row của Mumia Abu-Jamal). [1] Khái niệm này từ đó dần được phát triển và trở thành một lý thuyết được chấp thuận bởi các tòa án quốc gia, khu vực, lẫn quốc tế, v.v. như mô tả của Patrick Hudson vào năm 2000. [2]

