Phần lớn các quốc gia sử dụng luật như một công cụ để bảo vệ môi trường sống. Tính tới năm 2017, có 176 quốc gia đã xây dựng khung pháp lý về môi trường và có các cơ quan để thực hiện luật môi trường, 187 quốc gia có quy định đánh giá tác động môi trường với dự án ảnh hưởng tới môi trường. [1] Tuy nhiên, không phải luật và thiết chế nào cũng giúp đạt mục đích bảo vệ môi trường. Bài viết này nêu một ví dụ cụ thể từ khung pháp lý về môi trường Việt Nam.
Tuy khác nhau về chi tiết, luật môi trường của các quốc gia khác nhau có cùng mục đích chung là quản trị các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và hoạt động của con người trong việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên đó. Sự bền vững của môi trường tự nhiên giúp duy trì sự sống trên Trái Đất và cải thiện chất lượng sống của con người. Các nội dung chủ yếu của luật môi trường thường là về chất lượng không khí; chất lượng nước; chất lượng đất; đa dạng sinh học; quản lý chất thải và làm sạch ô nhiễm rừng, đại dương; năng lượng bền vững; và đánh giá tác động môi trường.
Hiện tượng biến đổi khí hậu (xuất hiện do hành vi của con người) khiến cho luật môi trường càng trở nên quan trọng ở cả tầm quốc tế và quốc gia. Các học giả luật tích cực nghiên cứu vai trò của luật và đề xuất các giải pháp sử dụng luật để điều chỉnh kinh tế tuần hoàn (circular economy), giảm thiểu biến đổi khí hậu. [2] Nhiều tổ chức, quỹ, chương trình chính thức và không chính thức được thành lập và hoạt động vì môi trường ở quy mô toàn cầu hoặc liên lục địa. [3]

