Không có gì phải nghi ngờ: mọi tiến trình dân chủ hoá đều gắn với một công cuộc cải cách hiến pháp, thường là dài hơi.
Thậm chí, sửa đổi hiến pháp còn thường được coi là khởi đầu của một tiến trình dân chủ hóa. Không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các nhà đấu tranh chính trị Việt Nam đòi Đảng Cộng sản bãi bỏ Điều 4 Hiến pháp để mở đường cho dân chủ hoá. Mặc dù không nhất thiết phải làm như vậy thì mới bắt đầu dân chủ hóa được – như Luật Khoa từng phân tích, đó vẫn là một đòi hỏi chính đáng. [1]
Đòi hỏi chính đáng đó phần nào đến từ kinh nghiệm của nước Tiệp Khắc cộng sản cũ.
“Điều 4”
Ngày 28/11/1989, tức là ngày thứ mười hai của phong trào biểu tình đòi dân chủ ở Tiệp Khắc – hay còn gọi là “Cách mạng Nhung” – một sự kiện trọng đại đã diễn ra: Chính quyền Tiệp Khắc tuyên bố chấm dứt chế độ chính trị một đảng và sẽ lập chính phủ mới với nhiều đảng phái tham gia. [2]
Một ngày sau, Quốc hội Liên bang thông qua Đạo luật Hiến pháp số 135/1989 để sửa Hiến pháp 1960, bãi bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc. [3]
Điều khoản bị bãi bỏ ấy ghi như thế này: [4]
“Lực lượng dẫn dắt xã hội và Nhà nước là đội tiên phong của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, một liên minh đấu tranh tự nguyện của những công dân tích cực và có ý thức chính trị cao nhất trong hàng ngũ công nhân, nông dân và trí thức.”
Bạn có biết điều khoản hiến pháp đó của Tiệp Khắc mang số mấy không?
Số 4.
Không biết vì lý do gì, Điều 4 của các bản hiến pháp của Việt Nam cũng có nội dung tương tự. Ngày nay, chúng ta thấy các cá nhân, hội nhóm đấu tranh dân chủ Việt Nam liên tục đòi “xóa bỏ Điều 4”, còn báo đảng thì đáp trả rằng đó là luận điệu của “các thế lực thù địch”.

