Trong những tháng năm cuối đời, vị tổng thống độc tài Tưởng Kinh Quốc đã mở đường cho một trang sử mới của Đài Loan: trang sử dân chủ hóa.
Những ngày này, tình trạng sức khỏe của ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một trong những chủ đề được bàn tán nhiều. Cho dù ông đang ốm đau hay vẫn ổn (theo nghĩa ổn của người già) thì Đảng Cộng sản Việt Nam chắc chắn vẫn cần phải chuẩn bị cho một tương lai không còn ông.
Khoảng bốn thập niên trước, Quốc Dân Đảng Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc) cũng ở vào một hoàn cảnh tương tự khi sức khỏe của đảng trưởng kiêm tổng thống Tưởng Kinh Quốc ngày càng sa sút. [1]
So với Việt Nam hôm nay, xã hội và nền chính trị Đài Loan khi ấy cũng mang khá nhiều điểm tương đồng:
Thứ nhất, cả hai đều bị những chế độ độc tài cai trị và luôn sẵn sàng đàn áp, bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ.
Thứ hai, cả hai đều là những nền kinh tế tăng trưởng nhanh từ xuất phát điểm tương đối thấp, nhờ theo đuổi chủ trương tự do hóa.
Thứ ba, khi tầng lớp trung lưu ngày càng trở nên đông đảo và đòi hỏi thêm nhiều tự do, chế độ bị đặt đứng trước hai lựa chọn: chủ động hay trì hoãn cải cách?
Thứ tư, cả hai đều chịu những sức ép cực lớn từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trong khi Đài Loan (thập niên 1970, 1980) thường xuyên bị Trung Quốc tìm cách cô lập và hăm dọa tấn công thì Việt Nam hôm nay cũng đang đối diện với nguy cơ mất thêm lãnh thổ và ngày càng lệ thuộc vào phương Bắc.
Tuy nhiên, điểm khác biệt là Đài Loan luôn trung thành với lập trường chống cộng sản cùng chính sách tự do hóa kinh tế triệt để (tôn trọng các nguyên tắc của thị trường tự do) nên phát triển vượt bậc, sau đó thực hiện cải cách dân chủ.

