Hai phạm trù đô thị (bao gồm cả kiến trúc) và độc tài tưởng chừng chẳng mấy liên quan, nhưng đó thực ra lại là một chủ đề hết sức thú vị và chưa nhận được sự quan tâm đúng mức.
Quy hoạch đô thị (urban planning) và kiến trúc (architect) đã trở thành công cụ thường xuyên được những chế độ độc tài sử dụng để biểu dương sức mạnh, củng cố sự đồng thuận, ngăn chặn, đàn áp đối lập và duy trì sự cai trị. [1]
Và Paris – kinh đô ánh sáng thế giới, một hình mẫu về quy hoạch đô thị – đã đi đầu trong xu hướng này cùng với các nhà nước chuyên chế ở châu Âu cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.
Dự án cải tạo Paris (năm 1853 – 1870) được nam tước Georges Eugène Haussmann chỉ đạo, dưới sự hậu thuẫn của Hoàng đế Napoleon III (cháu ruột Napoleon I). [2]
Khi cải tạo Paris, bên cạnh việc xây dựng thêm nhiều công trình hạ tầng và kiến trúc khang trang như đại lộ, công viên, quảng trường, v.v, Haussmann đã cho dẹp bỏ các khu ổ chuột và di dời tầng lớp dân nghèo, những người cùng khổ ra xa trung tâm thành phố.
Cách tiếp cận này đã bị một số nhà hoạt động chính trị đương thời cáo buộc là bình phong cho âm mưu bố trí lực lượng mật vụ để tăng cường giám sát người dân. [3] Những đại lộ rộng thênh thang và con đường được nắn ngay ngắn thẳng hàng sẽ giúp cảnh sát và quân đội dễ dàng di chuyển vào trấn áp đám đông biểu tình, thậm chí có thể nã pháo nếu cần thiết.
Tư duy sử dụng quy hoạch đô thị để kiểm soát đám đông của Hausmann sau đó đã lan truyền qua nhiều nơi. Nhiều chế độ độc tài đã áp dụng và cực đoan hóa các yếu tố thị uy và giám sát của lối kiến trúc quy hoạch này.

