Vì công lý và vì mục tiêu phát triển kinh tế.
Bây giờ bạn hãy tưởng tượng thế này: con cháu của những địa chủ bị chính quyền cướp đất thời Cải cách Ruộng đất những năm 1950 được hoàn trả lại ruộng đất hoặc được bồi thường trong trường hợp không thể hoàn trả được.
Nghe quả là chuyện hoang đường?
Nhưng hãy tưởng tượng tiếp: con cháu của những gia đình có nhà cửa bị chính quyền “tiếp thu” sau ngày tiếp quản thủ đô năm 1954 và sau ngày 30/4/1975 ở miền Nam, hay các tổ chức tôn giáo có nhà thờ, tu viện, thánh đường bị chính quyền “mượn” từ sau năm 1954 được nhận lại các bất động sản này, hoặc được bồi thường theo những cơ chế định giá nhất định.
Hay thậm chí hãy tưởng tượng thế này: các hộ dân có ruộng đất bị thu hồi bất hợp pháp ở Văn Giang – mà ngày nay là khu đô thị EcoPark – được bồi thường cho tài sản bị cướp mất của họ và những thiệt hại họ phải chịu trong những năm sau đó.
Bây giờ ở nước ta, ai mà đề xuất những chuyện như thế này thì người ta sẽ bảo là điên, dở hơi, rảnh việc, hoặc thậm chí là phản động.
Nhưng những chuyện nghe hoang đường và điên rồ đó đã xảy ra ở nhiều nước sau khi chế độ độc tài sụp đổ: Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary, Romania, Slovenia, Croatia, Nam Phi, v.v.
Trong bài viết này, tôi sử dụng hai công trình nghiên cứu để tóm tắt quá trình phục hồi tài sản ở Tiệp Khắc (cũ) và Cộng hòa Séc sau khi chế độ cộng sản chấm dứt vào tháng Mười Hai năm 1989. Một là cuốn “Post-communist restitution and the rule of law” của Tiến sĩ Csongor Kuti, do Nhà xuất bản Đại học Trung Âu (CEU Press) phát hành năm 2009 ở Hungary; hai là luận văn thạc sĩ luật năm 1997 của Sophia von Rundstedt tại Đại học Georgia (Mỹ). [1][2]

