Cuốn sách “Postcolonial Vietnam: New Histories of the National Past” (tạm dịch: “Việt Nam hậu thuộc địa: Những lịch sử mới của quá khứ quốc gia”) xuất bản năm 2002 [1] là một công trình nghiên cứu xuất sắc của Phó Giáo sư Patricia Pelley về chuyện viết sử ở Việt Nam.
Đây cũng là một trong những cuốn sách hiếm hoi mô tả quá trình viết, dựng sử ở Việt Nam mà Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ thể quyết định và giám sát.
Lịch sử phải đậm chất Mác
Việt Minh luôn cho rằng việc ông Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập (năm 1945) đã đánh dấu cột mốc chấm dứt thời thuộc địa của Việt Nam. Họ gọi giai đoạn 1946 – 1954 đơn thuần là kháng chiến chống Pháp như thể chỉ có hai phe Việt Nam và Pháp. Do đó, những người Việt không đi theo Việt Minh bị gọi là phản bội hay phản động.
Tuy nhiên, theo Patricia Pelley, khó mà xác định rõ cột mốc nào mới là thời điểm chấm dứt quá khứ thuộc địa ở Việt Nam, vì bản thân người Việt lúc bấy giờ không đồng nhất mục tiêu về vận mệnh đất nước. Có rất nhiều người Việt không đấu tranh chống Pháp nhưng cũng chẳng đi theo Việt Minh.
Chưa kể thời bấy giờ, dù người Việt ở mọi đảng phái đều đồng ý với ông Hồ Chí Minh rằng người Pháp không nên có mặt ở Việt Nam nữa, thế nhưng, không phải ai cũng cho rằng lực lượng thay thế Pháp nên là Việt Minh.
Sau Hiệp định Geneva năm 1954, vĩ tuyến 17 (cầu Hiền Lương – sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị), như thỏa thuận, đã tạm thời chia Việt Nam thành hai miền Nam – Bắc. Cuối cùng, vĩ tuyến này trở thành đường biên giới giữa hai quốc gia với hai thủ đô khác nhau: Hà Nội của miền Bắc và Sài Gòn của miền Nam.
Thế nhưng, trong các diễn ngôn lịch sử mà miền Bắc viết nên, Việt Nam chỉ tồn tại một quốc gia duy nhất và có thủ đô đặt tại Hà Nội. Nói cách khác, những người viết sử miền Bắc luôn phủ định hoàn toàn sự tồn tại của chính quyền miền Nam.

