Chắc bạn đọc nghĩ (hoặc đã được nuôi dưỡng, dạy bảo để nghĩ) rằng độc lập là một trong vài giá trị cao quý nhất. Không hẳn thế. Tôi có viết một bài với tiêu đề tương tự cho báo chính thống từ 2006 (tiêu đề và nội dung có thể bị báo biên tập đi một chút). [1] Nay muốn đào kỹ hơn vào chủ đề này.
Độc lập nghĩa là gì?
Độc lập là một từ Hán-Việt (独立)trong đó “独-độc” có nghĩa là một mình, và “立- lập” có nghĩa là đứng thẳng, theo nghĩa từ nguyên là đứng một mình.
Không rõ 独立 được Việt hóa thành từ Hán-Việt “độc lập” từ bao giờ. Trong hai cuốn từ điển tiếng Việt cổ nhất là “An Nam Dịch Ngữ” do Tứ Di Quán (cơ quan phiên dịch của triều Minh, tồn tại từ 1368 đến 1644) soạn khoảng thế kỷ thứ 16 không có từ “độc lập”. “Độc” chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong “độc thư” (đọc sách) mà thôi.
Cũng chẳng thể tìm thấy “độc lập” trong từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes in năm 1651 ở Rome dù có rà soát kỹ lưỡng từ trang 191 đến 244. Chúng ta cũng không tìm thấy từ “độc lập” trong “Đại Nam Quốc Âm Tự vị” của Huỳnh Tịnh Paulus Của in năm 1895 ở Sài Gòn (cũng chẳng thấy như một từ ghép ở cả mục từ “độc”, tr. 312, lẫn ở mục từ “lập” tr. 549-550).
“Độc lập” được dùng một cách rộng rãi theo nghĩa là không phụ thuộc vào ai hay cái gì (các từ gốc latin “independence” cũng có dạng từ nguyên là không [in]-phụ thuộc [dependence]). Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung Tâm Từ điển học [2011], trang 534, “độc lập” có hai nghĩa:
- (i) “tự mình tồn tại, hoạt động, không nương tựa hoặc phụ thuộc vào ai, vào cái gì khác” và
- (ii) “có chủ quyền, không phụ thuộc vào các nước khác hoặc dân tộc khác.”
Trong tiếng Việt từ “độc lập” có thể được dùng như danh từ, tính từ hay trạng từ tùy thuộc vị trí và ngữ cảnh. [2] Dưới đây chúng ta sẽ xem xét độc lập theo nghĩa thứ nhất và đến cuối sẽ chỉ nhắc ngắn gọn đến nghĩa thứ hai.
Chẳng có gì độc lập cả
Độc lập là một quan niệm chỉ tồn tại trong đầu óc con người, trong trí tưởng tượng, chứ trong thực tế chả có cái gì độc lập cả, ngay cả con người và xã hội. Độc lập tức là chết là theo nghĩa đó.







