Năm 1989, khi Việt Nam đang chuyển mình từ thời kỳ bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, không khí thi đua hừng hực diễn ra trong mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống. Lúc bấy giờ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát động phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” dành cho lực lượng nữ công nhân, viên chức, lao động. [1]
Phong trào này nhấn mạnh hai nhiệm vụ quan trọng của nữ giới: (1) tích cực tham gia lao động sản xuất để góp phần phát triển đất nước và (2) chu toàn thiên chức làm mẹ, làm vợ, làm dâu.
Cho tới nay, dù bị dư luận chỉ trích, phong trào này vẫn được duy trì. Những diễn ngôn như “hiệu quả”, “phát huy tốt”, “lan tỏa”, “nâng cao vị thế”, v.v. được sử dụng trong các báo cáo về “phụ nữ hai giỏi”. [2] [3] [4] [5] [6] Câu nói “giỏi việc nước, đảm việc nhà” đã trở thành một khuôn mẫu cứng nhắc, giới hạn sự phát triển cá nhân của phụ nữ.
Theo Báo cáo Điều tra lao động, việc làm năm 2018 của Tổng cục Thống kê, có khoảng 50% phụ nữ không tham gia hoạt động kinh tế vì “lý do cá nhân hoặc liên quan đến gia đình”, trong khi tỷ lệ này ở nam giới chỉ là 18,9%. [7]
Tờ Tuổi trẻ dẫn báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), phụ nữ Việt Nam dành trung bình 20,2 giờ mỗi tuần cho các công việc gia đình như dọn dẹp, giặt giũ, nấu ăn và chăm sóc con cái, trong khi nam giới chỉ dành 10,7 giờ. Đáng chú ý, gần 1/5 nam giới thậm chí không hề tham gia vào việc nhà.
Nhiều người nói rằng từ trước tới nay, trong xã hội phụ quyền, phụ nữ được ăn sung mặc sướng, chỉ cần chăm lo chồng con và làm đẹp, chứ có bị mất quyền gì đâu mà phải đi đòi. [8] Tuy nhiên, lập luận này chỉ đề cập đến một dạng tự do giới hạn trong khuôn khổ, và thực tế, nó đặt ra nhiều rào cản đối với quyền tự do lựa chọn cũng như sự phát triển cá nhân của phụ nữ.

