Cái tên Lương Ngọc An xuất hiện trở lại. Làn sóng tố cáo ông hiếp dâm cũng thế. Nhưng pháp luật về hiếp dâm – vốn thường phản ánh văn hóa trọng nam khinh nữ – có thể còn lâu mới thay đổi.
Nhà thơ Lương Ngọc An vừa được Hội Nhà văn bổ nhiệm làm Phó tổng biên tập tạp chí Nhà văn & Cuộc sống. [1] Cách đây hai năm, bà Dạ Thảo Phương đã đăng loạt bài tố cáo ông An hiếp dâm và gây nhiều hệ lụy tinh thần cho bà.
Vụ việc của bà Phương và ông An chỉ là một trong rất nhiều vụ tố cáo quấy rối tình dục và bạo lực giới thời gian gần đây trên mạng xã hội.
Bên cạnh việc “đụng chạm” đến các nhân vật trí thức hoặc các tổ chức đình đám, thì những tranh cãi liên quan đến pháp lý như suy đoán vô tội và nghĩa vụ chứng minh cho nạn nhân/người bị hại hay vai trò của công luận trong các vụ việc tương tự cũng được nhiều bên thảo luận.
Vấn đề là tại sao các nạn nhân của xâm hại tình dục và hiếp dâm lại không đưa vụ án ra tòa mà lại tố cáo trên các trang mạng xã hội?
Không đi sâu vào các tranh cãi trên, trong bài viết này người viết muốn đề cập đến một số góc nhìn phản biện của các nhà luật học nữ quyền (feminist legal studies) về cách mà luật pháp và quy trình tố tụng hình sự về tội hiếp dâm được thiết lập thông qua góc nhìn của đàn ông.
Ngoài ra, người viết cũng sơ lược đề cập đến một nhánh nghiên cứu mới trong luật học là đa nguyên pháp luật (legal pluralism), một lĩnh vực luật học thách thức việc nhìn luật pháp chỉ giới hạn trong luật nhà nước (state law).






Phong trào nữ quyền ở Việt Nam phần lớn được du nhập qua dịch thuật, hội thảo quốc tế, dự án NGO, chứ không phải qua một quá trình đấu tranh xã hội rộng khắp. Nghĩa là, các khái niệm như empowerment, gender equality, queer visibility hay intersectionality được hiểu trên mặt ngôn từ và truyền thông, nhưng thiếu điều kiện vật chất – pháp lý – văn hóa để chúng trở thành thực tiễn sống. Bời vì không gian chính trị (political space) tại Việt Nam quá hạn hẹp để làm điều đó.
Ví dụ:
Ở phương Tây, feminism gắn với phong trào đấu tranh lao động, quyền sinh sản, cải cách luật pháp, và học thuật phê phán, và thực sự là họ dùng nó để thực hành và đấu tranh phong trào riêng họ;
Ở Việt Nam, nó gắn với diễn đàn, workshop, podcast, patreon chiến dịch truyền thông – tức là hình thức biểu diễn tính tiến bộ, không phải đấu tranh cấu trúc. Mặc dù thương mang ý phản tư nhưng thực chất là giả phản tư (pseudo-criticality) có thể tạm gọi là hình thức của tokenism, tạo một không gian tiến bộ nhưng thực chất là phản tiến bộ, ngụy tạo tri thức, thực chất cái chúng ta gọi là nữ quyền, bình đẳng giới, … mình tamj gọi là hiện tượng “nhập khẩu ngôn ngữ” (imported lauguage), nhưng cái nhập khẩu này không được thực hiện hóa, và không gian chính trị Việt Nam tạo ra hình thức “kiểm duyện mềm” cho phát ngôn của cá nhân, tổ chức. Mình có thể gọi đây là intellectual tokenism, phần lớn chỉ để hình thức, không gian chính trị VIệt Nam không phù hợp để thực hành nó. chúng tạo ra một khoảng cách lớn giữa việc tiếp nhận lý thuyết (nghiên cứu, giáo dục, văn hóa, truyền thông) và việc vận dụng thực tiễn (không chỉ dừng ở khái niệm phản tư, mà thực sự sống và apply các giá trị đó trong công việc, xã hội và đời sống cá nhân).
Pseudo-intellectualism nảy sinh ngay từ môi trường đào tạo và xuất bản. Hệ thống giáo dục – học thuật khuyến khích biểu diễn tri thức chứ không nuôi dưỡng tư duy phê phán thật sự. Tư duy độc lập bị nghi ngờ, còn khả năng “viện dẫn đúng tác giả phương Tây” lại được khen ngợi. Vì vậy, nhiều người dù đọc lý thuyết rất sâu nhưng lại không có không gian chính trị – xã hội để sống thật với tri thức đó, họ chỉ có thể tái hiện nó trong phạm vi an toàn. Một dạng “phản tư có kiểm duyệt” ra đời, nơi ta có thể phê phán “cấu trúc quyền lực” miễn là không chạm vào cấu trúc quyền lực thật. Học sinh học chỉ để FLEXING chứ ít ai có thể dùng nó để biểu diễu bằng hành động , phi chính trị hóa hơn là thực hành thựuc sự