Quá trình dân chủ hóa của các quốc gia Đông Âu hậu cộng sản chưa bao giờ chấm dứt chỉ với sự thoái trào và triệt tiêu của các chính đảng cộng sản.
Công cuộc này không chỉ là việc xác định mô hình chính phủ nhỏ hay chính phủ lớn, không chỉ là hoàn thiện quá trình bầu cử, không chỉ là định lượng quyền lực giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương. Ngay từ khâu lựa chọn một mô hình chính thể hợp lý (mô hình khung cho tương tác quyền lực giữa các cơ quan đầu não trung ương) cũng đã là một bài toán vô cùng khó.
Trong bài viết này, cân nhắc bài học lịch sử lập quốc của nhà nước Cộng hòa Séc hiện đại, người viết mong muốn giới thiệu cho quý độc giả sự tương tác giữa lịch sử chính trị, mong muốn dân chủ, và các trào lưu tranh đấu tư tưởng… đã hình thành nên mô hình chính thể hiện đại của nhà nước Cộng hòa Séc ra sao.
Cội nguồn lịch sử
Tiệp Khắc trỗi dậy như một quốc gia – dân tộc với sự đổ vỡ của Đế chế Áo – Hung vào năm 1918. Kể từ thời điểm này, định chế tổng thống đã trở thành một đặc trưng của chính thể Tiệp Khắc, với đặc điểm là có uy tín và vị thế chính trị cao.
Vì sao lại như vậy?
Vì sức hút chính trị và tính cách của tổng thống đầu tiên, Tomáš Garrigue Masaryk, người nắm quyền từ 1918 đến 1935. [1] Masaryk là một lãnh đạo chính trị quan trọng và đóng góp lớn cho nền độc lập của Tiệp Khắc.
Dưới sự lãnh đạo của Masaryk, uy tín của định chế tổng thống được nâng cao, quyền lực tổng thống được xác định rõ ràng và hiệu quả trong Hiến pháp Tiệp Khắc 1920. [2]
Vị tổng thống thứ hai của Tiệp Khắc, Edvard Beneš (1935-1938), là một đồng nghiệp lâu năm của Masaryk và đồng thời là một trong các lãnh đạo của chính quyền lưu vong Tiệp Khắc khi Đức Quốc xã đang chiếm đóng quốc gia này trong Đệ nhị Thế chiến.


Một chế độ dân chủ vận hành hiệu quả nên là một chế độ vừa đảm bảo sự vận hành hiệu quả của chính phủ và sự kiểm soát quyền lực giữa các nhánh.
Nếu một nhà nước được thiết kế với mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp quá liên động (interlock), nguy cơ một nhánh hành pháp mạnh có khả năng thao túng toàn bộ nghị trình lập pháp sẽ rất lớn và dễ có nguy cơ suy thoái dân chủ với các biểu hiện như thông qua các đạo luật phản dân chủ; bổ nhiệm thân tín vào các định chế trọng tài như kiểm toán thuế, tòa án, công tố; những thân hữu thân chính thì nắm các kênh truyền thông và thu mua các kênh thông luận đối lập. Điều này dẫn đến sự suy thoái dân chủ không thể tránh khỏi. Ngay cả đại nghị chế cũng không thể thoát khỏi nguy cơ này (Hungary, Turkey, Cambodia).
Nếu một nhà nước được thiết kế với đặc điểm là tương tác quyền lực giữa các nhánh nhấn mạnh vào kiểm soát và cân bằng, nhà nước đó dễ bị tê liệt. Điều này có thể khiến dân chúng cảm thấy mất niềm tin vào chế độ dân chủ và chế độ đó dễ làm mồi cho các lực lượng dân túy. Một khi lực lượng dân túy thắng cử, chúng sẽ tìm các dỡ bỏ những định chế trọng tài có chức năng cân bằng và giám sát nhân danh “tôi là đại diện chân chính của nhân dân.” Tiền lệ nguy hiểm đã xảy ra ở nền cộng hòa Weimar và giờ đang được chứng kiến ở Hoa Kỳ.
Một nhà nước dân chủ nên kết hợp được cả hai yếu tố: tính hiệu quả trong vận hành của chính phủ và khả năng kiểm soát quyền lực của các nhánh. Và thường một chế độ có khả năng kết hợp quyền phủ quyết và quyền giải tán sẽ đảm bảo được hai yếu tố đó. Quyền phủ quyết khuyến khích đảng cầm quyền phản tỉnh trong khi quyền giải tán giúp giải quyết tình trạng bế tắt hiến pháp. Đương nhiên phương thức bầu cử cũng rất đáng lưu tâm vì nó quyết định ai sẽ là người tham gia vào sinh hoạt chính trị nhưng điểm chung là phương thức bầu cử nên đi kèm với trách nhiệm giải trình để các nghị sĩ đảng cầm quyền phải liên tục phản tư và điều chỉnh lại chính sách sau khi thảo luận với cử tri.