Với các ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI), Việt Nam là điểm đến hấp dẫn về “nhân công giá rẻ”. Người dân các vùng quê nghèo đến các đô thị lớn như TP. HCM, Hà Nội tìm công ăn việc làm. Nhưng sau hơn ba thập niên, người lao động đang rời bỏ nhà máy.
Ở các kỳ trước, Luật Khoa tạp chí đã giới thiệu cho bạn đọc về lược sử đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thế nào là nguồn “nhân công giá rẻ” cũng như khó khăn thực tế mà người lao động phổ thông hiện nay phải đối mặt.
Đến kỳ này, nhóm tác giả tiếp tục ghi nhận thực tế về mức lương tuyển dụng công nhân hằng tháng của ba miền.
Doanh nghiệp “khát” lao động, lương công nhân từ 5 đến 12 triệu
Theo ghi nhận của phóng viên, thị trường lao động đang chứng kiến một nghịch lý đáng chú ý: doanh nghiệp liên tục tuyển dụng trong khi người lao động không mặn mà với các vị trí được đăng tải.
Mức lương phổ biến cho công nhân ở ba miền dao động từ 5 đến 12 triệu đồng/tháng, tùy theo khu vực, trình độ và kinh nghiệm.
Ở miền Nam – thị trường lao động sôi động nhất cả nước – đang gặp phải tình trạng khó tuyển lao động phổ thông.
Theo trang Việc Làm Tốt (Chợ Tốt), riêng khu vực TP. HCM, trong tháng Năm, cũng cần tuyển gần 2.900 vị trí công nhân với mức thu nhập dao động từ 8 đến 12 triệu đồng/tháng.
Tuy nhiên, cũng theo trang này, các doanh nghiệp hiện nay khó tuyển công nhân, nếu không nói là cuộc khủng hoảng nhân sự trầm trọng.

Theo ghi nhận của phóng viên ở một khu công nghiệp tại TP. HCM vào cuối tháng Tư, nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đăng tin tuyển từ trước và sau Tết nhưng đến nay vẫn không tuyển đủ chỉ tiêu.
Nhiều doanh nghiệp đăng tin trên các trang mạng xã hội lẫn treo băng rôn giới thiệu trước cổng công ty với mức lương niêm yết có vẻ khả quan (khoảng từ 7 đến 12 triệu đồng), nhưng vẫn không thu hút được người lao động.
Bà H. (người bán hàng rong mấy năm qua ở một khu công nghiệp ở TP. HCM) cho hay tình hình tuyển dụng của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp dệt may, da giày, điện tử, v.v. hiện nay rất khó khăn.
Bà H. nhận thấy số người tìm việc bây giờ không nhiều như lúc trước. Điển hình là vài năm trước đây, cứ sau Tết là người dân đổ xô vào nộp hồ sơ xin việc tại cổng bảo vệ, nhưng năm nay thì không khí rất ảm đạm.
Doanh nghiệp cũng đưa ra nhiều ưu đãi mới như thưởng cho người mới vào, thưởng cho người giới thiệu, v.v. nhưng công nhân vẫn không mặn mà.
Theo bà H., các mức lương mà doanh nghiệp đăng tuyển lên đến 10 triệu hay 12 triệu đồng/tháng, về thực chất là tổng thu nhập, bao gồm tăng ca, phụ cấp, v.v. Chứ mức lương cơ bản của công nhân mới vào là khoảng 5,2 triệu đồng/tháng, chỉ cao hơn mức tối thiểu vùng một ít. Người mới vào phải làm ba tháng thử việc với mức lương thấp hơn mức lương cơ bản.
Đối với người có thâm niên, khi nghỉ việc hoặc sau khi bị sa thải rồi quay trở lại làm việc, họ cũng thường nhận mức lương ban đầu như “lính mới”.
“Để tăng thu nhập, công nhân phải tăng ca mới mức tiền dao động từ 40.000 đến 60.000 đồng/giờ. Nhưng giờ không ai thích cảnh tám tiếng trong nhà máy nóng nực nữa,” bà H. nói thêm.
Anh T. cho hay hai vợ chồng làm công nhân đã lâu, nhưng anh nhận thấy mức lương cơ bản không thay đổi nhiều qua các năm.
Anh T. cho hay: “Từ khoảng 3 – 4 triệu đồng/tháng vào năm 2010, đến năm 2025, mức lương cơ bản vẫn chỉ ở mức hơn 5 triệu đồng/tháng. Có người làm trên chục năm thì mới đạt mức lương 8 – 9 triệu đồng/tháng.”
Với mức này, theo anh T. là không đủ sống ở TP. HCM, nhất là với gia đình có con nhỏ hay phải gửi chu cấp cho cha mẹ ở quê.
Ở khu vực miền Bắc, các địa phương như Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh đang sốt sắng tìm công nhân có trình độ từ phổ thông đến trung cấp, cao đẳng.

Tại ngày hội việc làm do Trung tâm Dịch vụ Việc làm Hà Nội tổ chức hồi tháng Tư, các doanh nghiệp đến từ bảy tỉnh phía Bắc công bố nhu cầu tuyển dụng lên đến 29.195 người. Điển hình là Bắc Giang có nhu cầu tuyển hơn 14.000 vị trí, Bắc Ninh cần tuyển 5.399 chỉ tiêu, ở Hà Nội cần tuyển 1.177 chỉ tiêu.
Đáng chú ý, có 37,2% số vị trí cần tuyển người có trình độ cao đẳng – đại học, 40,1% cần trình độ trung cấp – công nhân kỹ thuật và 22,7% cần lao động phổ thông. Hơn một nửa các vị trí này ưu tiên độ tuổi từ 18 đến 25.
Khảo sát thực tế tại khu công nghiệp Thạch Thất, Hà Nội, phóng viên ghi nhận mức lương tuyển dụng công nhân dao động khá rộng. Đơn cử như Công ty TNHH Điện tử Meiko Việt Nam tuyển công nhân với mức tổng thu nhập từ 7 đến 11 triệu đồng/tháng; Công ty TNHH Sejong Vina tuyển công nhân may với thu nhập từ 8 đến 12 triệu đồng/tháng.
Nhiều đại diện doanh nghiệp cho hay tuyển lao động quanh năm nhưng vẫn “đỏ mắt”.

Trên trang tuyển dụng trực tuyến Việc Làm Tốt, có hàng ngàn việc làm dành cho lao động phổ thông tại Hà Nội với mức lương từ 8 đến 12 triệu đồng/tháng.
Trong khi đó, ở miền Trung, thị trường lao động cũng chứng kiến sự gia tăng đáng kể về nhu cầu tuyển dụng, đặc biệt là ở các khu công nghiệp như Tam Hiệp – Chu Lai, Điện Nam – Điện Ngọc ở Quảng Nam. Tuy nhiên, tại các khu vực này cũng có tình trạng thiếu hụt lao động.
Lý do doanh nghiệp khó kiếm lao động phổ thông
Cuộc “đại di cư” ngược từ thành phố về quê và sự thay đổi trong tư duy việc làm của người lao động đang tạo ra một bức tranh nhân sự đầy thách thức cho các nhà tuyển dụng, nhất là đối với doanh nghiệp FDI vốn đã quen săn tìm “nhân công giá rẻ”.
Theo khảo sát của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội TP. HCM (cũ) sau Tết Nguyên đán 2024, có khoảng 18,67% doanh nghiệp (trong tổng số mẫu 300 doanh nghiệp) gặp khó khăn khi tuyển dụng.
Nguyên nhân chính được xác định là vì người lao động không đáp ứng các yêu cầu của doanh nghiệp (chiếm 68,66%); chế độ phúc lợi như tiền lương, tiền thưởng thấp (20,9%); điều kiện làm việc như môi trường làm việc, an toàn lao động, chế độ quản lý (5,97%); và các lý do khác (4,48%).
Theo người viết, thực trạng thiếu hụt lao động “nhân công giá rẻ” có thể kể đến các nguyên nhân sau đây.
Thứ nhất, người lao động có nhiều lựa chọn làm việc linh hoạt hơn. Xu hướng “bỏ nhà máy” đang ngày càng phổ biến.
Thay vì phải làm việc tám tiếng/ngày trong môi trường công nghiệp và thường xuyên tăng ca để cải thiện mức lương, người lao động ngày nay có thể chuyển sang các công việc mới như lái xe công nghệ, bán hàng online, giao hàng tự do, v.v.
Các công việc này tuy không đảm bảo thu nhập ổn định nhưng đổi lại, người lao động được chủ động về thời gian và không gian làm việc.
Điển hình như trường hợp của anh Trần Thế Sang, sau khi nghỉ việc vào năm 2023, anh đã chạy xe công nghệ với thu nhập bình quân khoảng 7 triệu đồng/tháng.

Mức lương này cũng tương đương như khi anh làm công nhân nhưng lại thoải mái về thời gian và anh tự chủ được công việc.
Thứ hai, hiện tượng “hồi hương” sau đại dịch COVID-19.
Đại dịch COVID-19 đã tạo ra một cú sốc tâm lý cho người lao động nhập cư tại các thành phố lớn. Trước kia, không ít người từ bỏ ruộng nương, chấp nhận xa gia đình, con cái, đến thành phố làm việc với hy vọng đời sống được khá khẩm hơn.

Đời sống của họ phụ thuộc vào nhà máy và họ cống hiến hết mình cho các “chủ sử dụng lao động” như một cách hàm ơn người đã tạo việc làm cho mình.
Nhưng khi dịch bệnh xảy ra và sau đó là chuỗi biến cố như công ty cắt giảm nhân sự, người lao động mất việc, không có trợ cấp, không đủ tiền thuê trọ, chi phí ăn uống đắt đỏ. Trong khi đó, nhà nước lại không có nhiều chính sách hỗ trợ (hoặc có nhưng rất trần ai, như các gói hỗ trợ dịch COVID-19 của chính quyền TP. HCM), nên họ phải về quê trong tình cảnh trắng tay.
Cảnh “di cư ngược” sau giãn cách xã hội vì dịch COVID-19 năm 2021 là một ví dụ.
Trải nghiệm này đã thay đổi căn bản nhận thức của người lao động về việc “lên thành phố kiếm tiền”.
Nhiều người nhận ra rằng cuộc sống ở quê tuy thu nhập thấp hơn nhưng chi phí rẻ, ít áp lực, lại gần gia đình.
Thứ ba, vấn đề chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) và thất nghiệp.
Nhiều lao động hiện nay “ngại” ký hợp đồng chính thức do quy định trong Luật Việc làm (sửa đổi).
Theo dự thảo luật mới, người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 144 tháng (12 năm) sẽ không được bảo lưu phần đóng thêm.
Nhiều người chọn nghỉ việc ngay khi đủ 144 tháng đóng BHXH để hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa. Sau đó, họ làm thủ tục nhận BHXH một lần để có vốn khởi nghiệp hoặc chuyển sang làm việc tự do.
Trong khi đó, việc nợ BHXH của các doanh nghiệp hiện nay đã làm giảm niềm tin của người lao động vào hệ thống an sinh xã hội của nhà nước.
Mỗi năm, thống kê trên toàn quốc có hàng chục ngàn tỷ đồng tiền nợ BHXH, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của hàng triệu lao động.
Tuy nhiên, đến nay, nhà chức trách vẫn không có giải pháp nào cụ thể để bảo đảm quyền lợi của người tham gia.
Điều này khiến người lao động lo ngại về quyền lợi dài hạn khi làm việc chính thức và là một trong những yếu tố đẩy họ sang khu vực việc làm phi chính thức.

Thứ tư, sự phát triển của các khu công nghiệp địa phương.
Chiến lược phát triển công nghiệp đã thay đổi cơ bản bản đồ lao động Việt Nam. Các khu công nghiệp không còn tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn mà đã mở rộng đến nhiều tỉnh, thành. Nhiều nhà máy được xây dựng gần khu vực nông thôn, do đó, người lao động có thể làm việc mà không cần rời xa quê hương.
Họ có thể tiết kiệm chi phí thuê trọ, sinh hoạt; duy trì được mối quan hệ gia đình, cộng đồng.
Với mức lương không chênh lệch quá nhiều giữa các khu công nghiệp trên cả nước, người lao động không còn động lực để di cư đến các thành phố lớn.
Chị Nguyễn Thị Hải (38 tuổi, ở Nam Đàn, Nghệ An) chia sẻ với Báo Tuổi Trẻ: “Nhà máy may ở gần nhà, nếu làm tăng ca thì lương, thưởng của tôi mỗi tháng cũng được 8 – 10 triệu đồng. Mức thu nhập này tuy có thấp hơn so với công ty ở miền Nam nhưng bù lại vợ chồng tôi không phải mất tiền ở trọ, lại được gần bố mẹ.”
Thứ năm, vấn đề then chốt: mức lương không hấp dẫn khi so với chi phí sinh hoạt.
Theo thống kê từ Indeed năm 2025, mức lương trung bình của công nhân Việt Nam hiện ở mức 7,8 triệu đồng/tháng.
Để xem mức lương này có đủ sống ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP. HCM hay không, mời độc giả xem loạt bài “Sống nhờ lương” mà nhóm phóng viên đã viết và đăng trên Luật Khoa tạp chí.
Mặt khác, hầu hết doanh nghiệp FDI hiện nay vẫn giữ mức lương khởi điểm thấp, chỉ cao hơn mức lương tối thiểu vùng một ít. Đồng thời, mức lương này còn tăng rất chậm, khiến người lao động cảm thấy không có động lực gắn bó lâu dài.
Dù làm việc chăm chỉ cả tháng nhưng sau khi trừ chi phí thuê trọ, ăn uống, đi lại, v.v. thì người lao động gần như không còn dư. Trong khi đó, giá cả sinh hoạt ngày một đắt đỏ.

Thứ sáu, nhà nước thay đổi chính sách thu hút FDI và cơ cấu phát triển kinh tế.
Hiện nay, Việt Nam đang thay đổi chiến lược thu hút FDI bằng các chính sách ưu tiên các ngành công nghệ cao, thân thiện với môi trường và ít thâm dụng lao động (còn gọi là “FDI xanh”). Các ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông như dệt may, da giày không còn được ưu đãi mạnh như trước.
Với các điều kiện ràng buộc của quốc tế về chuỗi cung ứng nói chung, các doanh nghiệp FDI phải thay đổi cách vận hành, cải thiện dây chuyền sản xuất, áp dụng máy móc nhiều hơn.
Tất cả các nguyên nhân này đều gián tiếp ảnh hưởng đến việc làm của nhiều lao động phổ thông hiện nay ở các thành phố lớn.
Có thể nói, tình trạng thiếu hụt lao động phổ thông không chỉ là vấn đề nhất thời mà là kết quả của nhiều yếu tố cấu trúc trong thị trường lao động.
Và cũng có thể khẳng định rằng dù doanh nghiệp có còn săn tìm “nhân công giá rẻ” hay không thì tư duy của người lao động cũng đã khác đi rất nhiều. Sòng phẳng hơn và thực dụng hơn.
Để hiểu thêm về chiến lược “FDI xanh” của nhà nước hiện nay, mời quý độc giả đón xem kỳ cuối của loạt bài này, trên Luật Khoa tạp chí.

