Việt Nam đang từng bước loại bỏ mô hình FDI thâm dụng lao động, hướng tới “FDI xanh” và công nghệ cao. Cách làm cụ thể ra sao? Đâu là thách thức và cơ hội trong quá trình chuyển đổi này?
Tại Diễn đàn Quốc gia Phát triển Doanh nghiệp Công nghệ Số Việt Nam lần thứ 6 vào tháng 1/2025, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Tô Lâm nhấn mạnh nếu không đổi chiến lược, không thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chọn lọc, Việt Nam sẽ mãi chỉ là “cứ điểm lắp ráp, gia công” với giá trị gia tăng thấp, thậm chí trở thành “bãi rác công nghệ”.
“Đòn bẩy” từ các FTA thế hệ mới
Trên thực tế, trong những năm gần đây, Việt Nam đã định hình lại chiến lược thu hút FDI theo hướng chọn lọc. Các dự án công nghệ cao, thân thiện với môi trường và ít phát thải (gọi chung là FDI xanh) được ưu tiên hàng đầu.

Việt Nam đã ký kết và thực thi loạt hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới (như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại Tự do EU – Việt Nam (EVFTA), hay Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).)
Những FTA này không chỉ mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn là “đòn bẩy” thúc đẩy tiêu chuẩn môi trường, lao động, tạo áp lực sàng lọc các dòng vốn đầu tư chất lượng thấp.
Nhờ đó, Việt Nam đã thu hút hàng tỷ USD đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo và khu công nghiệp sinh thái, như điện gió Osterd (Bình Thuận), B.Grimm Power (Tây Ninh), v.v.
Đơn cử như từ khi có hiệu lực vào năm 2019, CPTPP đã giúp cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam xuất khẩu sang các nước thành viên đạt 53,6 tỷ USD vào năm 2022, tăng 17,3% so với năm 2018, dù chịu tác động của dịch bệnh.
Với mức cam kết cắt giảm thuế quan sâu rộng, CPTPP đã giúp hàng hóa Việt Nam tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, đi kèm là nhiều rào cản phi thuế quan, đặc biệt là các quy định khắt khe về bảo vệ môi trường, sản xuất xanh và trách nhiệm xã hội.
Cụ thể, Hiệp định CPTPP dành riêng Chương 20 gồm 23 điều khoản quy định các cam kết của các nước thành viên trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, các nước thành viên cũng cam kết thực thi ba điều ước quốc tế quan trọng về môi trường, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế phát thải thấp.
Về phần mình, Việt Nam đang từng bước hiện thực hóa cam kết “đạt mức phát thải ròng bằng ‘0’ (Net Zero) vào năm 2050”, theo tuyên bố tại Hội nghị Thượng đỉnh về Biến đổi Khí hậu của Liên Hiệp Quốc năm 2021 (COP26).
Điều đó buộc hệ thống pháp luật và mô hình đầu tư phải thay đổi.

“Luồng xanh” từ thủ tục cho đến nhiều ưu đãi khác
Kể từ khi có hiệu lực vào ngày 1/1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư đối tác công tư và Luật Đấu thầu (Luật sửa bốn luật) được kỳ vọng sẽ đơn giản hóa các thủ tục hành chính và đẩy mạnh phân cấp trong hoạt động đầu tư, đặc biệt là thu hút vốn FDI xanh.
Các quy định cũng tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài, nổi bật là thủ tục đặc biệt (luồng xanh) cho các dự án thuộc lĩnh vực công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu và phát triển, bán dẫn, chip, trí tuệ nhân tạo (AI), v.v. Điều này giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư xuống còn 15 ngày.
Đồng thời, Quỹ Hỗ trợ Đầu tư của Chính phủ được thành lập từ nguồn thu chống xói mòn thuế toàn cầu, hỗ trợ tài chính cho các dự án đầu tư lớn, công nghệ cao, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia.
Quỹ này đã triển khai các hình thức hỗ trợ chưa từng có tiền lệ, như chi trực tiếp cho chi phí đào tạo nhân lực (tối đa 50%), đầu tư hạ tầng xã hội (tối đa 25%), sản xuất sản phẩm công nghệ cao (tối đa 3%), và một số khoản mục khác.
Tại Hội nghị toàn quốc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 12 diễn ra vào tháng 12/2024, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, tính đến tháng 11, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam ước đạt khoảng 715 tỷ USD, tăng 15,3% so với năm trước, với mức xuất siêu hơn 23 tỷ USD. Dự kiến cả năm đạt 807,7 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.
Trong đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục là điểm sáng, đưa Việt Nam vào nhóm 15 quốc gia đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới.
Đáng chú ý, từ năm 2017 – 2021, Việt Nam đã thu hút gần chín tỷ USD FDI vào các lĩnh vực xanh, chủ yếu là năng lượng tái tạo và sản xuất thiết bị phục vụ phát triển bền vững (MPI Việt Nam và BCG, 2023).

Nhiều địa phương và doanh nghiệp cũng đang tích cực triển khai các dự án gắn với định hướng đầu tư xanh.
Điển hình, ngày 17/5, tỉnh Bình Dương và Công ty Becamex IDC khởi công xây dựng khu công nghiệp Cây Trường và khu công nghiệp Bàu Bàng mở rộng tại huyện Bàu Bàng.
Hai dự án này có tổng vốn đầu tư hơn 5.459 tỷ đồng với 380 ha quỹ đất sạch. Dự án dự kiến tạo việc làm cho 35.000 người lao động và hướng đến mục tiêu phát thải ròng bằng 0.

Trong lĩnh vực năng lượng, chuỗi dự án khí – điện Lô B – Ô Môn cũng đã khởi công xây dựng vào tháng 9/2024.
Đây là một trong những dự án khí tự nhiên lớn nhất tại Việt Nam với tổng trữ lượng lên tới 107 tỷ m³, tổng vốn đầu tư lên tới 12 tỷ USD, đóng vai trò chủ chốt trong cung cấp nhiên liệu cho các nhà máy điện khí và công nghiệp hóa dầu.
Bên cạnh đó, khối doanh nghiệp FDI cũng thể hiện cam kết mạnh mẽ với phát triển xanh.
Ông Bhardwaj Vinay, tổng giám đốc Công ty Indorama Ventures Ngọc Nghĩa Việt Nam, cho biết doanh nghiệp đã đầu tư nhà máy sản xuất bao bì nhựa tại Hưng Yên.
Trong đó, riêng phần vốn dành cho các hạng mục “xanh” như hệ thống điện mặt trời và mô hình kinh tế tuần hoàn đã lên tới 15 triệu USD.
Việc này nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao tại Việt Nam, đồng thời đáp ứng yêu cầu bền vững từ thị trường toàn cầu.
Theo Cục Đầu tư Nước ngoài (Bộ Tài chính cũ), hai tháng đầu năm 2025, vốn FDI đầu tư vào Việt Nam đạt 6,9 tỷ USD (tăng 35,5% so với cùng kỳ năm 2024), vốn FDI giải ngân đạt 2,95 tỷ USD (tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2024).

Quy hoạch lại các khu công nghiệp hiện hữu Tuy nhiên, không phải bức tranh nào cũng sáng màu. Theo số liệu do Ủy ban Nhân dân (UBND) TP. HCM công bố, trong năm 2024, tổng vốn FDI vào thành phố chỉ đạt 2,2 tỷ USD, giảm mạnh 39,5% so với năm 2023. Đáng chú ý, cho dù số lượng dự án FDI tăng, với 1.285 dự án được cấp phép, tăng 14,7% so với năm trước, nhưng tổng vốn đăng ký của các dự án này lại chỉ đạt 475 triệu USD, giảm 18,3% so với cùng kỳ năm 2023. Lý do, quỹ đất công nghiệp tại TP. HCM ngày càng cạn kiệt, trong khi việc phát triển thêm các khu công nghiệp mới còn chậm, khiến khả năng thu hút các dự án FDI quy mô lớn bị hạn chế. Mặc dù TP. HCM được quy hoạch gần 6.000 ha đất công nghiệp, nhưng hiện có đến 1.500 ha đang gặp vướng mắc về pháp lý hoặc chưa thể giải phóng mặt bằng. Ngoài ra, nhiều dự án tại TP. HCM vẫn bị vướng thủ tục, chậm phê duyệt, dù Chính phủ đã chấp thuận chủ trương. Tháng 8/2024, Công ty TNHH Mercedes-Benz Việt Nam đã có văn bản khẩn gửi UBND TP. HCM, đề nghị thành phố sớm ra quyết định chấp thuận chủ trương gia hạn đầu tư cho dự án của hãng, vì thời hạn thuê đất chỉ còn bốn tháng nữa sẽ kết thúc. Mặc dù Chính phủ đã có văn bản chấp thuận chủ trương từ ngày 25/9/2024, nhưng đến giữa tháng 12/2024, doanh nghiệp vẫn chưa thể hoàn tất các thủ tục cần thiết do vướng mắc ở cấp địa phương. Tình cảnh tương tự cũng xảy ra với Công ty TNHH Castrol BP Petco. Doanh nghiệp này đã nộp hồ sơ điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư từ giữa tháng 10/2024 nhằm gia hạn thời gian thực hiện dự án. Tuy nhiên, sau hơn hai tháng chờ đợi, họ vẫn chưa nhận được bất kỳ phản hồi nào từ các cơ quan chức năng thuộc UBND TP. HCM. Chiến lược chuyển đổi sang FDI xanh cũng khiến các dự án thâm dụng lao động gặp khó. TP. HCM đang quy hoạch lại các khu công nghiệp hiện hữu thành khu công nghiệp sinh thái, công nghệ cao, dịch vụ – đô thị kết hợp. Đồng thời đẩy 14 khu công nghiệp mới ra vùng ven, phát triển theo mô hình thông minh và liên kết vùng. |
“Cú hích” để sàng lọc FDI
Theo báo cáo tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc tế về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), từ năm 2015 – 2022, Việt Nam xếp thứ hai trong năm nền kinh tế đang phát triển về thu hút FDI vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, với tổng vốn khoảng 106,8 tỷ USD.
Dù vậy, thống kê từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy phần lớn dự án FDI vẫn nằm ở các lĩnh vực phát thải cao và giá trị gia tăng thấp.
Tháng 4/2024, Chính phủ đã ban hành bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả FDI, trong đó có năm tiêu chí bắt buộc về môi trường:
- Tỷ lệ tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng các biện pháp tiết kiệm năng lượng;
- Tỷ lệ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được cấp chứng nhận quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 14001 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001;
- Tốc độ tăng số lượng các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của tổ chức kinh tế có vốn ĐTNN được cấp chứng nhận quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 14001 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001;
- Tỷ lệ các cơ sở sản xuất, kinh doanh của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chấp hành tốt quy định pháp luật về bảo vệ môi trường;
- Tỷ trọng phát thải khí nhà kính của các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng số cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính.
Các yêu cầu này đang là “bộ lọc” khiến nhiều nhà máy lạc hậu dần bị đào thải.
Đây được xem là cú hích giúp Việt Nam sàng lọc dự án FDI không chỉ theo vốn, mà còn dựa trên chất lượng tăng trưởng và đóng góp dài hạn.
Trong bối cảnh đó tăng trưởng xanh, nhiều doanh nghiệp FDI cũng phải tái cấu trúc để thích nghi với xu thế mới, cắt giảm lao động phổ thông, chuyển sang máy móc và nhân lực có kỹ năng cao hơn.
Tuy nhiên, theo khảo sát của Ban Nghiên cứu Phát triển Kinh tế Tư nhân (Ban IV) vào giữa năm 2024 với 2.734 doanh nghiệp, cho thấy 64% số doanh nghiệp chưa có bất kỳ sự chuẩn bị nào cho chuyển đổi xanh; chỉ 5,5% đã bắt đầu cắt giảm khí thải trong một số hoạt động và chỉ 3,8% theo dõi, công bố kết quả giảm phát thải hằng năm.
Lý do, 50% doanh nghiệp gặp khó khăn về nguồn vốn.
Bên cạnh đó, việc tìm kiếm nhân lực chuyên môn về giảm phát thải cũng là thách thức lớn với cả doanh nghiệp trong nước và FDI, bởi đây là lĩnh vực mới, đặc thù, khiến họ khó xác định được nguồn nhân lực phù hợp.
Dòng vốn FDI vào Việt Nam đang tái cấu trúc theo hướng xanh, bền vững. Nhưng để đi xa, Việt Nam cần không chỉ ưu đãi hấp dẫn, mà còn cải cách thể chế thực chất, tinh giản thủ tục, nâng chất nguồn nhân lực và giữ vững cam kết phát triển dài hạn với nhà đầu tư.
Đọc thêm:




