Từ sau thời kỳ Đổi Mới, Việt Nam đã thu được dòng vốn từ các doanh nghiệp FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) nhờ xây dựng các khu chế xuất. Nhờ đó mà kinh tế trong nước khởi sắc, phát triển; còn người dân thì có công ăn việc làm.
Việt Nam đã có nhiều chính sách trải thảm đỏ cho các doanh nghiệp FDI, từ các chính sách ưu đãi thuế cho tới nguồn lực “tự nhiên” là nhân công dồi dào.
Nhưng cũng chính vì vậy mà đất nước đã có một thế hệ người lao động thủ công, có mức lương thấp, sớm tối ở nhà máy, hằng ngày cân đo đong đếm từng miếng rau, con cá vì mức lương chẳng nhiều nhặn gì.
Trong bài viết này, chúng ta sẽ nhìn sâu hơn vào tư duy “săn tìm” lao động giá rẻ.
Để thu hút doanh nghiệp FDI, chính quyền đã triển khai loạt chính sách ưu đãi gì và tận dụng triệt để nguồn “nhân công giá rẻ” trong nước như thế nào?
Thảm đỏ cho doanh nghiệp FDI
Một trong những chính sách then chốt mà Việt Nam áp dụng để thu hút doanh nghiệp FDI là các ưu đãi về thuế và hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh.
Ngay từ khi ban hành Luật Đầu tư Nước ngoài năm 1987, Việt Nam đưa ra loạt chính sách hấp dẫn, mà điển hình là việc miễn thuế lợi tức (thuế thu nhập doanh nghiệp) cho doanh nghiệp FDI tối đa bốn năm kể từ khi bắt đầu kinh doanh, giảm 50% số thuế phải nộp tối đa bốn năm tiếp theo, tùy vào lĩnh vực và địa bàn đầu tư.

Doanh nghiệp FDI cũng được miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, nguyên liệu phục vụ sản xuất hoặc gia công cho nước ngoài.
Song song với ưu đãi ban đầu, Chính phủ còn thực hiện lộ trình giảm thuế suất doanh nghiệp phổ thông qua các thời kỳ, từ mức 28% (giai đoạn 2001 – 2008) xuống còn 25% (2009 – 2013), 22% (2014 – 2015), và 20% từ ngày 1/1/2016.
Ngoài ra, một số ngành nghề ưu tiên đầu tư như công nghệ cao, nghiên cứu phát triển, sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, v.v. cũng được áp dụng mức thuế ưu đãi thấp hơn, kèm theo các chính sách miễn hay giảm thuế trong thời hạn nhất định.
Đặc biệt, vào tháng 10/2021, thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 29/2021. Theo đó, các nhà đầu tư có quy mô vốn từ 30.000 tỷ đồng trở lên và đầu tư vào các lĩnh vực đặc biệt ưu đãi thì có thể hưởng thuế suất thu nhập doanh nghiệp 9% trong thời gian lên đến 30 năm; miễn thuế tối đa 5 năm và giảm 50% trong tối đa 10 năm tiếp theo.

Từ năm 2024, Việt Nam bắt đầu áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu theo nghị quyết của Quốc hội.
Cụ thể, doanh nghiệp đa quốc gia có tổng doanh thu hợp nhất từ khoảng 800 triệu USD trở lên trong hai năm của bốn năm liền kề gần nhất sẽ bị áp mức thuế tối thiểu 15%.
Chính sách này dự kiến giúp Việt Nam thu thêm khoảng 14.600 tỷ đồng/năm.
Bên cạnh chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ về mặt bằng sản xuất cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút doanh nghiệp FDI.
Từ năm 2011 đến năm 2014, Chính phủ đã ban hành chính sách giảm một nửa tiền thuê đất cho doanh nghiệp thuộc một số lĩnh vực nếu đáp ứng điều kiện cụ thể.
Năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 35/2017 quy định về việc thu tiền sử dụng đất và thuê đất trong khu kinh tế, khu công nghệ cao với mức ưu đãi cao hơn so với các dự án đầu tư thông thường.
Tháng 10/2021, thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 29/2021, nhà đầu tư thuộc diện ưu đãi đặc biệt ưu đãi còn được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong thời gian từ 18 đến 20 năm, hoặc được giảm từ 55% đến 75% tiền thuê đất trong suốt thời gian còn lại của dự án.
Việc áp dụng chính sách ưu đãi thuế và hỗ trợ mặt bằng trong nhiều thập niên qua đã mang lại kết quả rõ rệt cho Việt Nam.
Tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam tăng mạnh từ vài trăm triệu USD/năm đầu thập niên 1990 lên hơn 500 tỷ USD vào năm 2025.
Tính đến tháng 3/2025, Việt Nam có 42.760 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký khoảng 510,5 tỷ USD và tổng vốn thực hiện hơn 327,5 tỷ USD.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài chiếm khoảng 18% đến 25% trong tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong giai đoạn từ năm 1991 đến 2018.
Đã có sự hiện diện của các tập đoàn lớn nổi tiếng trên thế giới, như Samsung, Toyota, Honda, Mitsubishi, v.v. tại Việt Nam. Kim ngạch xuất nhập khẩu, xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (năm 2017 chiếm tới 72,6%).

Các doanh nghiệp FDI cũng có đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước với hơn 83.000 tỷ đồng năm 2012 (chưa kể thu từ dầu thô), năm 2013 hơn 111.000 tỷ đồng, năm 2014 hơn 123.000 tỷ đồng, năm 2015 hơn 140.000 tỷ đồng, đến năm 2016 là 161.000 tỷ đồng và đến năm 2017 chiếm 14,5% tổng thu ngân sách nhà nước.
Các ngành thu hút FDI chủ yếu gồm chế biến, chế tạo (chiếm khoảng 60% tổng vốn), tiếp theo là bất động sản, năng lượng tái tạo, và dịch vụ logistics.
Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, và gần đây là Trung Quốc đang là những nhà đầu tư lớn nhất. Qua đó, phần nào phản ánh hiệu quả của chính sách ưu đãi kết hợp với lợi thế chi phí nhân công và vị trí địa lý của Việt Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả tích cực, chính sách ưu đãi kéo dài cũng bộc lộ một số mặt trái.
Việc miễn và giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian dài khiến ngân sách nhà nước thất thu một khoản đáng kể, đặc biệt trong bối cảnh đất nước đang nỗ lực tăng chi cho hạ tầng và an sinh xã hội.
Ngoài ra, sự chênh lệch ưu đãi giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước dấy lên một nguy cơ làm méo mó môi trường cạnh tranh, khiến doanh nghiệp nội địa gặp nhiều bất lợi, nhất là các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực sản xuất.

Bên cạnh đó, một số dự án FDI có giá trị gia tăng thấp, sử dụng nhiều lao động phổ thông, chưa đáp ứng được mục tiêu chuyển giao công nghệ và phát triển bền vững.
“Nhân công giá rẻ”
Một yếu tố quan trọng nhưng ít được nhắc đến trong hệ thống ưu đãi thu hút FDI của Việt Nam là lợi thế “nhân công giá rẻ”.
Dù không được thể hiện dưới dạng quy định pháp lý như ưu đãi thuế hay miễn tiền thuê đất, song chi phí lao động thấp vẫn được xem là một “ưu đãi tự nhiên” có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Trong nhiều thập niên, đây là một trong những lý do cốt lõi khiến các tập đoàn đa quốc gia lựa chọn Việt Nam làm điểm đến để đặt nhà máy, đặc biệt trong các ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày, và lắp ráp điện tử.

Lợi thế này bắt đầu hình thành từ đầu những năm 1990, khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế sau chính sách Đổi Mới.
Mức lương tối thiểu vùng khi đó chỉ dao động ở mức vài trăm ngàn đồng mỗi tháng, trong khi lực lượng lao động trẻ, đông đảo và có nhu cầu việc làm lớn giúp duy trì mức chi phí nhân công rất thấp.
Nhiều nhà đầu tư từ Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản đã chuyển dịch sản xuất sang Việt Nam nhằm tận dụng lợi thế này, nhất là trong khi chi phí lao động tại Trung Quốc bắt đầu tăng mạnh sau năm 2000.
Ngoài ra, “nhân công giá rẻ” còn xuất phát từ cấu trúc dân số vàng của Việt Nam, với tỷ lệ người trong độ tuổi lao động chiếm đa số trong giai đoạn 2000 – 2020.
Bên cạnh đó, định hướng chính sách thu hút FDI vào các ngành công nghiệp nhẹ vì có khả năng tạo nhiều việc làm cũng gián tiếp củng cố mô hình phát triển dựa trên lao động giá rẻ.
Đáng chú ý, sự phát triển của các khu công nghiệp tại vùng ven đô và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, phía Bắc đã kích hoạt làn sóng di cư lớn từ các tỉnh nông thôn ra thành phố để tìm kiếm việc làm.
Những dòng người trẻ từ Nghệ An, Thanh Hóa, Thái Bình, Cà Mau, v.v. đổ về Bình Dương, Đồng Nai, Bắc Ninh, Hải Phòng đã hình thành nên tầng lớp công nhân nhập cư. Đây cũng là lực lượng lao động chủ lực trong các nhà máy FDI.
Việc sẵn sàng làm việc với mức lương tối thiểu, ít đòi hỏi, chấp nhận điều kiện sống chật chội và tạm bợ ở các khu trọ xung quanh khu công nghiệp càng khiến chi phí nhân công thực tế tại Việt Nam thấp hơn cả mức lương danh nghĩa.
Chính dòng di cư này, dù phần lớn là tự phát, lại vô tình tạo ra một nguồn cung lao động giá rẻ liên tục, đủ để đáp ứng yêu cầu sản xuất quy mô lớn mà không cần chính sách trợ cấp đặc biệt nào từ phía nhà nước.
Tuy nhiên, việc phụ thuộc quá lâu vào lợi thế này đang bộc lộ những giới hạn rõ rệt.
Nhiều doanh nghiệp FDI chỉ tận dụng chi phí thấp để làm gia công đơn giản, không đầu tư vào đổi mới công nghệ, không tạo ra sự lan tỏa về năng suất hay kỹ thuật cho doanh nghiệp trong nước.
Việt Nam có nguy cơ “mắc kẹt trong bẫy giá trị thấp”, khi nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất đầu chuỗi thay vì phát triển các ngành công nghệ cao hay dịch vụ chất lượng.
Mặt khác, chính ưu đãi “nhân công giá rẻ” cũng gây ra áp lực lớn cho không ai khác mà chính là người lao động.
Vào năm 2024, theo một cuộc khảo sát của Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản (JETRO), nhóm công nhân sản xuất ở nước ta có mức lương hàng tháng ở khoảng 250 USD, chưa bằng một nửa Trung Quốc (531 USD), bằng 1/8 so với Singapore (2.000 USD), và thấp hơn so với các nước láng giềng như Thái Lan (447 USD) hay Malaysia (431 USD).
Trang tin tài chính Motley Fool (Mỹ) đánh giá Việt Nam là một trong ba quốc gia (cùng với Mỹ và Mexico) có khả năng sẽ lật đổ thị trường hàng đầu thế giới Trung Quốc về lao động giá rẻ trong tương lai gần.
Như ở ngành dệt may, Việt Nam hiện là quốc gia xuất khẩu dệt may đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc, khi đạt kim ngạch xuất khẩu 43,5 tỷ USD vào năm 2024.
Theo Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, tổng số lao động làm việc trong ngành dệt may đã tăng từ gần 1,8 triệu người vào năm 2012 lên khoảng ba triệu người năm 2024.
Ngoài ra, nước ta cũng có khoảng 7.000 doanh nghiệp dệt may, trong số đó, chỉ có khoảng 735 doanh nghiệp chi trả mức lương bình quân 10,4 triệu đồng/người/tháng cho người lao động.
Mức thu nhập này của công nhân ngành may mặc vẫn còn thấp hơn thu nhập bình quân tháng của cả nước (gần 11,5 triệu đồng); thấp hơn ngành chế biến, chế tạo (10,58 triệu đồng); điện tử (12,54 triệu đồng); v.v.
Trong khi đó, công nhân làm việc trong ngành dệt may phải làm việc trong môi trường khắc nghiệt, phải thường xuyên tăng ca, v.v.

Theo khảo sát tiêu dùng tại Việt Nam năm 2023 – 2024 và báo cáo công bố mức lương đủ sống năm 2024 của Liên minh Sàn lương châu Á (AFWA), có hơn 2,7 triệu lao động nước ta làm ngành may mặc, phần lớn là lao động nữ.
Trong đó, hơn 50% số hộ gia đình có người làm trong ngành may mặc đang sống với mức thu nhập dưới 10 triệu đồng/tháng, khoảng 29% hộ có thu nhập từ 5 đến 10 triệu đồng/tháng. Công nhân ngành may mặc có mức thu nhập trung bình (bao gồm cả tiền tăng ca, thưởng và phụ cấp) khoảng 6 triệu đồng/tháng.

Thực tế, mức lương cơ bản (lương đóng bảo hiểm) còn thấp hơn. Khoảng 33% công nhân được khảo sát chỉ nhận được mức lương dưới 4 triệu đồng/tháng.
Lời nguyền tuổi 35
Trong các doanh nghiệp FDI đã hình thành khái niệm không chính thức mang tên “lời nguyền tuổi 35”. Cụm từ này ám chỉ hiện tượng công nhân rơi vào tình trạng mất việc hoặc chủ động nghỉ việc khi bước sang độ tuổi từ 30 đến 40.

Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (cũ), nhóm lao động từ 35 đến 40 tuổi gặp khó khăn khi tìm việc làm mới.
Tại TP. HCM, thống kê của Trung tâm Dự báo Nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động (thuộc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội) cho thấy, các doanh nghiệp có xu hướng tuyển dụng lao động trẻ: 60,47% nhu cầu tập trung ở nhóm dưới 25 tuổi; 34,59% thuộc nhóm từ 25 đến 34 tuổi; còn lao động từ 35 đến 49 tuổi chỉ chiếm 4,94%.
Một khảo sát của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết độ tuổi trung bình của công nhân hiện nay chỉ là 31,2 tuổi và thời gian trung bình làm việc tại một doanh nghiệp là khoảng 6 – 7 năm.
Sau tuổi 35, người lao động không chỉ đối mặt với nguy cơ bị doanh nghiệp cho nghỉ vì năng suất giảm, mà nhiều người cũng tự xin nghỉ vì sức khỏe suy kiệt sau thời gian dài tăng ca liên tục để kiếm thêm thu nhập.
Nhiều doanh nghiệp hiện nay áp dụng hình thức “sa thải mềm” để loại bỏ lao động lớn tuổi. Họ không chấm dứt hợp đồng trực tiếp mà chuyển công nhân sang vị trí không có thu nhập hoặc cắt giảm tăng ca, buộc người lao động phải tự nghỉ việc vì không có thu nhập. Hay một “chiêu” khác mà doanh nghiệp áp dụng là trả mức lương mới, tính thu nhập theo năng suất.

Trong khi đó, mức lương tối thiểu vùng được nhà nước quy định ra để tránh việc người lao động bị trả lương quá thấp. Tuy nhiên, trên thực tế các công ty luôn tìm cách tối ưu hóa lợi nhuận. Các khoản chi phí khác gây ảnh hưởng đến lợi nhuận sẽ luôn bị giảm về mức thấp nhất.
Theo khảo sát của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, thu nhập của 75,5% người lao động không đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu, 17,3% công nhân được khảo sát phải thường xuyên phải vay nợ.
Không ít người sau nhiều năm làm việc đã chọn nhận bảo hiểm xã hội một lần để rút lui khỏi thị trường lao động, như trường hợp chị Trần Thị Đào (Nghệ An) sau 10 năm làm việc với mức lương chỉ hơn 4 triệu đồng/tháng.
Những bất cập trên đã góp phần châm ngòi cho hàng loạt cuộc ngừng việc tập thể trong thời gian gần đây.
Vào đầu năm 2022, cả nước xảy ra 28 cuộc ngừng việc tập thể, tranh chấp lao động tại 11 địa phương.

Đặc biệt, tại Công ty TNHH Pouchen Việt Nam (Đồng Nai) có tới 16.158 lao động ngừng việc tập thể do không đồng ý việc công ty giảm tiền thưởng cuối năm 2021.
Các cuộc ngừng việc tập thể cũng xảy ra tại Công ty TNHH Viet Glory (sản xuất giày, dép) tại Nghệ An; Công ty TNHH Vienergy (Đài Loan, sản xuất giày, dép) tại Ninh Bình; v.v. với các nguyên nhân chủ yếu đến từ việc thay đổi cách trả lương, cắt thưởng, chất lượng bữa ăn và chế độ làm việc không còn như cam kết ban đầu.
Phải tăng ca mới đủ sống
Dựa theo số liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (cũ), phóng viên Luật Khoa tạp chí tổng hợp mức lương bình quân hằng tháng của người lao động trong giai đoạn 2020 – 2024.

Theo Liên đoàn Lao động TP. Đà Nẵng, năm 2024, có khoảng 72.000 công nhân tại các khu công nghiệp/chế xuất trên địa bàn, với mức thu nhập bình quân khoảng 7,32 triệu đồng/tháng. Lãnh đạo Liên đoàn Lao động TP. Đà Nẵng nói rằng với nguồn thu nhập này thì công nhân vẫn còn chật vật trong việc chi tiêu sinh hoạt.
Chị Vàng Thị Sú, công nhân Công ty TNHH JV (tỉnh Bắc Ninh) phải làm việc 28 ngày, bao gồm ca đêm, tăng ca vào bốn ngày Chủ nhật, với tổng 150,5 giờ làm thêm trong tháng để đạt mức thu nhập hơn 19 triệu đồng/tháng.
Vì nếu không làm thêm, lương cơ bản đi kèm phụ cấp của chị chỉ khoảng 6,6 triệu đồng/tháng.
Tương tự, để nâng thu nhập thực tế từ mức lương tiêu chuẩn hơn 6,4 triệu đồng/tháng lên mức hơn 16 triệu đồng/tháng, trong tháng 1/2025, chị Phùng Thị Lan, công nhân Công ty TNHH AC (tỉnh Bắc Ninh) cũng đã phải tăng ca cật lực với tổng số giờ tăng ca 119,5 giờ/tháng (tổng lương tăng ca gần 8 triệu đồng/tháng). Mỗi tháng chị Lan chỉ nghỉ hai ngày.
Theo đánh giá của AFWA, thu nhập 11 triệu đồng/tháng là mức thấp vì chi phí sinh hoạt ngày càng tăng.
Để đảm bảo một mức sống tối thiểu đủ đầy cho công nhân ngành may mặc tại châu Á, mức lương đủ sống cần đạt ít nhất 12,4 triệu đồng/người/tháng.
Mức lương này không chỉ đáp ứng các nhu cầu thiết yếu như ăn, ở, mặc, mà còn phải đảm bảo người lao động có thể sống một cuộc sống đủ để phát triển bản thân và chăm lo cho gia đình.
Theo ghi nhận từ các khảo sát gần đây, đời sống của công nhân tại TP. HCM đang gặp nhiều khó khăn do giá cả leo thang, trong khi lương bổng lại không nhiều nhặn gì.
Với mức lương cơ bản phổ biến chỉ khoảng 5 – 6 triệu đồng/tháng, phần lớn công nhân buộc phải tăng ca từ 10 đến 16 tiếng mỗi ngày để nâng thu nhập lên khoảng 8 – 10 triệu đồng.
Tuy nhiên, sau khi trừ các chi phí thiết yếu như tiền thuê trọ, ăn uống, đi lại, và gửi tiền về quê nuôi con hoặc cha mẹ, hầu như không còn dư giả.
Điều kiện sinh hoạt của người dân vẫn còn rất thiếu thốn.
Nhiều người sống trong những khu trọ chật hẹp, diện tích chỉ từ 5 đến 10m², dùng nhà vệ sinh chung với giá thuê chỉ từ 1 triệu đồng/tháng.
Các khu vực như Tân Tạo (quận Bình Tân), quận 7, quận 8, v.v. là nơi tập trung đông công nhân nhưng hạ tầng còn chưa quá phát triển, thường xuyên ngập nước nhất là vào mùa mưa.
Do điều kiện kinh tế eo hẹp, nhiều công nhân phải mua thực phẩm giá rẻ, không rõ nguồn gốc được bày bán tràn lan gần các khu công nghiệp.

Về mặt nhân khẩu học, lực lượng công nhân tại TP. HCM chủ yếu là người trẻ, đa phần di cư từ các tỉnh miền Tây Nam Bộ, trình độ học vấn thấp, nhiều người không có bằng cấp chuyên môn.
Có trường hợp chỉ mới 15, 16 tuổi phải khai gian tuổi để được đi làm sớm.
Vì bận rộn với công việc và kiếm tiền, không ít công nhân chấp nhận xa con, gửi con nhỏ về quê nhờ ông bà chăm sóc.
Vào các kỳ nghỉ lễ ngắn ngày, để tiết kiệm tiền di chuyển, họ phải chạy xe máy từ hàng trăm cây số để về thăm gia đình. Có người còn không dám về dịp Tết vì sợ tốn kém.

Sau nhiều năm, điều kiện sống của người công nhân tại TP. HCM vẫn chưa có sự cải thiện rõ rệt. Bên cạnh thu nhập không ổn định, họ còn đối mặt với rủi ro về sức khỏe, môi trường sống kém vệ sinh và thiếu thốn các dịch vụ xã hội cơ bản.

