Như đã phân tích ở các kỳ trước, tự do ngôn luận vốn được ghi nhận là một quyền con người cơ bản. Để hiện thực hóa điều này, các quốc gia đều ghi nhận tự do ngôn luận trong bản “khế ước xã hội” của mình.
Câu chuyện về công cuộc lập pháp, đưa quyền tự do ngôn luận trở thành quyền hiến định trong hiến pháp của Việt Nam cũng không nằm ngoài phạm vi ấy. Kỳ này sẽ xem xét các diễn ngôn về kiến tạo pháp lý (sự hiến định hóa) tự do ngôn luận trong các bản hiến pháp.
Ngược dòng lịch sử, qua bảy bản hiến pháp đã lần lượt công nhận, ghi nhận quyền này. Tuy nhiên, cách hiểu và cách thực hành tự do ngôn luận đã thay đổi theo từng giai đoạn chính trị – lịch sử.
Trước tiên, chúng ta xem xét sự phát triển của quyền tự do ngôn luận trong Hiến pháp của Việt Nam Cộng hòa:
Phóng viên Luật Khoa tạp chí lập bảng nội dung quyền tự do ngôn luận qua các bản hiến pháp, như sau:
| Văn bản | Nội dung điều khoản | Diễn giải |
| Hiến pháp 1956 | Điều 16: “Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa. Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực”. | Theo đó, mọi người dân đều có quyền phát biểu ý kiến, bày tỏ quan điểm cá nhân mà không bị ngăn cấm. Bản Hiến pháp cũng đặt ra những giới hạn rõ ràng: người dân không được lợi dụng quyền này để vu cáo, phỉ báng người khác, xâm phạm thuần phong mỹ tục, hay kích động nổi loạn và phá hoại chính thể cộng hòa. Qua đó, quy định rõ về ranh giới giữa quyền biểu đạt cá nhân và nghĩa vụ gìn giữ trật tự xã hội. Khác với quan niệm coi báo chí là công cụ tuyên truyền một chiều, bản hiến pháp này khẳng định báo chí phải phản ánh sự thật. Đặc biệt, Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ dư luận chân thực ấy trước mọi hành vi xuyên tạc. |
| Hiến pháp 1967 | Điều 12. “1. Quốc gia tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, báo chí và xuất bản, miễn là sự hành xử các quyền nầy không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng hay thuần phong mỹ tục. 2. Chế độ kiểm duyệt không được chấp nhận, ngoại trừ các bộ môn điện ảnh và kịch trường.3. Một đạo luật sẽ ấn định qui chế báo chí”. | Tương tự như bản hiến pháp tiền nhiệm, nội dung của điều 12 cũng ghi nhận những quyền tự do ngôn luận cơ bản. Tuy nhiên, như một nguyên tắc giới hạn thường thấy trong các nền dân chủ lập hiến, các quyền này chỉ được công nhận trong phạm vi không gây phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng và thuần phong mỹ tục. Hiến pháp bác bỏ sự tồn tại của chế độ kiểm duyệt, ngoại trừ trong lĩnh vực điện ảnh và kịch trường. Để tránh tình trạng mơ hồ trong áp dụng, bản Hiến pháp giao thẩm quyền cho cơ quan chuyên trách ban hành một đạo luật riêng nhằm quy định chi tiết chế độ báo chí. |
Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa, nhìn chung, cho thấy một tiến trình chuyển đổi đáng chú ý về nhận thức và bảo đảm quyền tự do ngôn luận.
Hiến pháp 1956, dưới chính thể Đệ Nhất Cộng hòa, thừa nhận quyền này nhưng đặt nhiều giới hạn chính trị như cấm xuyên tạc, kích động, hoặc lật đổ chính thể. Với các lằn ranh này, nó phản ánh một mô hình nhà nước chú trọng bảo vệ trật tự hơn là khuyến khích phản biện xã hội.
Mặt khác, tự do báo chí được bảo đảm, đặt nhiệm vụ bảo vệ sự thật lên vai chính quyền, khác với những chính thể độc tài, khi sự kiểm soát, tạo dựng màng lọc thông tin lại là “kim chỉ nam” của nhà nước.

