Lời nói đầu, tôi kính cảm ơn Tổng biên tập Trịnh Hữu Long với bài viết “Nhân quyền và lợi ích doanh nghiệp” đã cho tôi một góc nhìn về một vấn đề mà tôi hằng bận tâm đã lâu. Tại đây, tôi cũng có vài băn khoăn muốn mở rộng như sau.
Nhằm giúp độc giả dễ tiếp cận, tôi xin phép chia bài viết của tác giả Trịnh Hữu Long ra một vài luận điểm để tiện trao đổi.
Luận điểm 1: Khái niệm “nhân quyền” vẫn còn mới mẻ, huống hồ là chuyện đánh giá tác động nhân quyền của doanh nghiệp ở Việt Nam
Tôi vô cùng đồng ý với tác giả dưới góc nhìn là người sống ở Việt Nam đã lâu. Mặc dù trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) cùng với các văn kiện Đại hội 11, 12 và 13, đảng cộng sản luôn khẳng định tầm quan trọng của việc bảo đảm hạnh phúc, phát triển tự do và toàn diện cho con người. Đồng thời, đảng còn nhấn mạnh yêu cầu tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, cũng như nghiêm túc thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.
Tuy nhiên, từ cương lĩnh bước ra đời thực vẫn còn rất xa. Xét riêng trong hoạt động doanh nghiệp, “tác động nhân quyền của doanh nghiệp” (business-related human rights impacts) đề cập đến ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực mà một doanh nghiệp có thể gây ra đối với quyền con người của các cá nhân hoặc cộng đồng liên đới bởi hoạt động của doanh nghiệp đó. Theo đó, một doanh nghiệp có thể trực tiếp gây ra, hoặc liên đới phần nào với các hành vi vi phạm quyền con người, ví dụ: lao động cưỡng bức, bóc lột, trả lương thấp, phân biệt đối xử trong tuyển dụng và nơi làm việc, xâm phạm quyền riêng tư của người dùng (đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ), v.v. Và đó chính xác là những hiện tượng thường xuyên được thấy ở Việt Nam, đặc biệt với tầng lớp dân lao động thấp cổ bé họng.

