Tôi viết những lời này khi tôi lớn lên cùng một thế hệ trẻ đã được sống trong ánh sáng của nền văn minh công nghệ, sự hiện đại, và các giá trị tự do. Nhưng cái khuôn tự do đó tới đâu thì chỉ có những người khác biệt quan điểm với phần đông xã hội mới có thể có câu trả lời thấm thía và đầy đau đớn.
Thế hệ trẻ (sinh sau những năm 2000) lớn lên trong cái vòng kiểm duyệt siết chặt, từ Internet đến tự do báo chí, đến ngôn ngữ học đường, đến những giáo trình mang tính tuyên truyền và lòng hận thù cùng tinh thần bài xích đã được đan vào trong trí óc từ những ngày thơ bé. Những cuộc săn lùng, đấu tố của thế hệ sau cũng vì thế mà khắc nghiệt hơn cả trăm cả nghìn lần khi sự khác biệt đã ngày càng hiếm hoi trong không gian nhuốm đồng phục tư tưởng ấy.
Cụm từ “come out” ra đời từ cộng đồng LGBT, từ một công cuộc cách mạng đấu tranh cho bình đẳng. Theo Oxford Learner’s Dictionaries, nét nghĩa ban đầu của cụm từ “come out” là “có mặt, nêu lên ý kiến, ra mắt hoặc gia nhập xã hội”; đến năm 1941, từ này lần đầu tiên được ghi nhận với nghĩa “công khai xu hướng tính dục đồng tính” trong Random House Historical Dictionary of American Slang.
Cụm từ này có nguồn gốc từ thành ngữ “skeleton in the closet”, phản ánh quan niệm xã hội trong quá khứ khi đồng tính luyến ái từng bị xem là một bí mật đáng xấu hổ cần che giấu. Việc công khai xu hướng tính dục trong bối cảnh đó có thể dẫn đến hệ quả nghiêm trọng, bao gồm nguy cơ bị gia đình từ bỏ, mất đi các mối quan hệ thân thiết, và đối mặt với nhiều bất lợi trong đời sống cá nhân cũng như xã hội.

