Dịp tưởng niệm ngày ra đi của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho tôi được những suy tư này.
Khi một vị nguyên thủ quốc gia nào đó qua đời, người ta thường dùng câu nói “nghĩa tử là nghĩa tận” như một thứ “kim bài miễn tử” cho tất cả những điều người ấy đã làm ở trần gian – dù là tốt hay xấu – trong khi tác động của những hành vi đó có thể ở quy mô toàn xã hội. Câu “nghĩa tử là nghĩa tận” nhắc nhớ rằng: Khi một người qua đời, mọi ân oán, lỗi lầm đều nên khép lại; điều quan trọng là làm tròn đạo nghĩa cuối cùng với người đã khuất, dù khi còn sống họ thế nào.
Và có lẽ, chính cái câu nói đó thành một thứ vũ khí mà người ta dùng để chống lại cả những ai dám đưa sự thật về một con người ra ánh sáng kể cả khi họ đã nhắm mắt xuôi tay, nhân danh một thứ đạo đức cao cả “nghĩa tử là nghĩa tận”.
Nhưng thực chất, muốn người khác có “nghĩa” với mình lúc ra đi thì mình phải tận tình với người ta lúc còn sống. Không thể có tội lỗi nào có thể “tận” nếu dư âm của nó vẫn còn vang vọng trên chính cuộc đời của những người đang phải sống với những chấn thương xã hội dai dẳng.
Tôi nhớ năm ngoái, lúc có thông báo tổng bí thư ra đi, dường như có tồn tại hẳn cả một sân khấu cho những người nhân danh quốc tang để đấu tố bất cứ ai không có cảm xúc buồn thương – một sự áp đặt đầy khiên cưỡng nhân danh “ơn nghĩa” với lãnh đạo.
Nguyên thủ quốc gia ra đi, dứt khoát là một sự kiện lớn, nhưng cách một đất nước để tang và tưởng niệm mới là thứ phản ánh tầm vóc của nền văn hóa chính trị.
Thứ tầm vóc văn hóa chính trị đó nằm ở chỗ: ta có nhân danh quyền lực ra để áp đặt tất cả quần chúng phải có chung cảm xúc buồn thương, có lấy tang lễ ra làm sân khấu phô trương quyền lực, có muốn rùm beng để trở thành gánh nặng ngân sách quốc gia, và dân chúng có mù quáng, có thần thánh hóa hay không…
Quan trọng hơn hết, quốc tang cho một nguyên thủ cũng là cách tôn vinh những giá trị tốt đẹp mà người đó đại diện: yêu nước, cống hiến, liêm chính,… nhưng vẫn phải dám công nhận một sân khấu những tiếng nói chính trực đánh giá đúng những công trạng lẫn vết nhơ lịch sử họ để lại.
Nghĩa tử tuy có là nghĩa tận đi chăng nữa, thì hệ lụy từ tư tưởng và hành trạng của người đã khuất có “tận” hay không là một chuyện khác.
Có những cá nhân, dù hoàn toàn xứng đáng được tổ chức quốc tang với đầy đủ nghi thức trang trọng, nhưng ngay từ khi còn sống đã để lại di chúc yêu cầu không tiến hành quốc tang cho mình. Một ví dụ điển hình là cố Thủ tướng Anh Margaret Thatcher.
Vào thời điểm Chính phủ Anh chuẩn bị tổ chức lễ tang cho bà vào ngày 17/04/2013, hầu hết các tờ báo tại Việt Nam đều đăng tải tin tức liên quan đến nghi lễ này. Nhiều tờ báo đã trích dẫn lời căn dặn cuối đời của bà: “Đừng lãng phí tiền cho đám tang tôi” – một câu nói ngắn gọn nhưng thể hiện rõ quan điểm cá nhân về sự giản dị, tiết kiệm và trách nhiệm với toàn thể công chúng, ngay cả sau khi qua đời.
Thế mới thấm thía cho câu:
“Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.”
Chính hành động của lãnh đạo thuở còn tại thế mới là thứ vang vọng trong tâm trí quần chúng chứ không phải là tiếng kèn đưa tang hay những ngày lễ tưởng niệm.
Quốc tang cho một lãnh đạo bị nhìn nhận là độc đoán và gây tranh cãi sẽ là phép thử đạo đức dành cho xã hội, báo chí, và đội ngũ trí thức. Một xã hội trưởng thành là phải dám nói về cái sai của người có công. Việc phản biện trong không khí quốc tang hay lễ tưởng niệm không thể bị xem “báng bổ”, mà phải được nhìn nhận là hành vi can đảm để bảo vệ sự minh bạch lịch sử và đạo đức chính trị.
Đến bao giờ mà người dân của một quốc gia biết tưởng niệm sự ra đi của một con người theo một cách thông tuệ và tỉnh táo, đồng thời biết giữ lại những phản tư cần thiết về di sản họ để lại, khi đó người ta mới thực sự hiểu rằng: lịch sử cần được viết bằng sự thật chứ không phải bằng những vòng hoa trắng.
Đọc thêm:



