Bộ luật Hình sự (sửa đổi) năm 2025 vừa có hiệu lực trong tháng 7, với tám án tử hình được bãi bỏ. Theo sau bản Hiến pháp sửa đổi, việc chỉnh sửa bộ luật này cũng hoà trong không khí “sắp xếp lại giang sơn”. Nhưng ít ai biết, trong 80 năm tuổi đời của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bộ luật hình sự đầu tiên chỉ chiếm nửa số tuổi, với bao biến chuyển thăng trầm.
Sự ra đời của Bộ luật Hình sự (BLHS) vào năm 1985, bộ luật hình sự đầu tiên của nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đã đánh dấu một bước chuyển mình tích cực của hệ thống tư pháp Việt Nam. Tuy vậy, từ lúc ra đời cho đến nay, BLHS này đã phải trải nhiều lần sửa đổi kéo dài trong nhiều thập kỷ.
Trong bài viết này, tác giả sẽ khái quát hóa một lược sử về tư duy lập pháp hình sự của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, kể từ khi thành lập quốc vào năm 1945 đến khi ban hành BLHS đầu tiên năm 1985, và những lần sửa đổi, bổ sung, thay thế bộ luật này cho đến nay.
Từ năm 1945 – 1975
Trong giai đoạn này, tại miền Bắc, chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa có một Bộ Luật Hình sự hoàn chỉnh nào kể từ khi lập quốc năm 1945. Hệ thống pháp luật hình sự lúc này về cơ bản chỉ là sự kết hợp giữa các sắc lệnh thời chiến, các văn bản dưới luật mang tính chỉ đạo chính trị và một hệ thống trại cải tạo rộng lớn, hoạt động theo cơ chế hành chính.
Trong suốt giai đoạn kháng chiến 1945 -1953, vì không có điều kiện cho một nhà nước pháp quyền hoàn thiện, Hồ Chí Minh – trên cương vị Chủ tịch nước – đã ký ban hành trực tiếp nhiều sắc lệnh có tính chất lập pháp. Hàng loạt các sắc lệnh, thông tư thời kỳ này cùng áp dụng song song với một số văn bản luật hình sự đã có từ thời Pháp thuộc. Đồng thời, ông còn cho thành lập các tòa án quân sự trên khắp cả nước. Đây được coi là hệ thống tư pháp đầu tiên của một nhà nước xã hội chủ nghĩa mới.
Trong thời kỳ đó, nhiệm vụ trọng tâm, nếu không muốn nói là hàng đầu của hệ thống tòa án và các văn bản pháp luật là bảo vệ chế độ. Điều này thể hiện rõ qua việc chính quyền tập trung xét xử các nhóm tội danh mang tính chính trị, điển hình như: tội xâm phạm tài sản công (sắc lệnh 26, năm 1946), tội làm gián điệp (sắc lệnh 146, năm 1948), tội tiết lộ bí mật nhà nước (sắc lệnh 154, năm 1950), tội phản cách mạng (sắc lệnh 133, năm 1953 ), v.v.
Đến khi đất nước bị chia cắt theo Hiệp định Genève vào năm 1954, giai đoạn tiếp từ năm 1954 – 1975, ở miền Bắc, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục duy trì và mở rộng thêm các văn bản luật hình sự, nhưng cơ bản vẫn dựa trên nền tảng pháp lý chuyên chính vô sản đã có từ trước đó. Trong khi ở miền Nam, phía Việt Nam Cộng hòa đã có bộ luật Hình sự tố tụng cho riêng mình, được ban hành theo Sắc luật số 027/TT-SLU vào năm 1972.
Một số văn bản pháp luật hình sự tiêu biểu trong chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể liệt kê ra như:
- Sắc lệnh số 133 ngày 20 tháng 1 năm 1953 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc trừng phạt những người Việt Nam phản động
- Pháp lệnh năm 1967 về trừng phạt tội phản cách mạng
- Pháp lệnh năm 1970 về trừng phạt các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa
Từ năm 1975 – 1985
Sau ngày 30/4/1975, hệ thống pháp luật dưới thời Việt Nam Cộng hòa bị chính quyền mới bãi bỏ gần như hoàn toàn.
Theo tường thuật của nhà báo Huy Đức trong tác phẩm Bên thắng cuộc, suốt gần một thập kỷ sau ngày thống nhất, việc xử lý các hành vi bị coi là “tội phạm” – đặc biệt là những tội liên quan đến an ninh chính trị và trật tự xã hội – chủ yếu chỉ dựa trên các sắc lệnh, chỉ thị của đảng và nhà nước, thay vì một bộ luật được quốc hội thông qua.
Trong tác phẩm của mình, Huy Đức còn mô tả chi tiết việc nhà nước đã tiếp tục áp dụng một thứ pháp luật thời chiến vào bối cảnh thời bình. Đơn cử như Pháp lệnh trừng trị tội phản cách mạng, do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành vào năm 1967, được áp dụng để xử lý hầu như mọi hành vi phạm tội trong xã hội trong lúc này.
Các vụ bắt giữ của công an phần lớn chỉ dựa trên các chỉ thị chính trị hơn là dựa trên một quy trình tố tụng chuẩn mực. Trong số đó, nổi bật là vụ án “Hồ Con Rùa” ở Sài Gòn vào tháng 4/1976. Chính quyền đã mở chiến dịch bắt bớ nhắm vào hàng loạt các văn nghệ sĩ như Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Duyên Anh, Nguyễn Mạnh Côn, Trịnh Viết Thành với cáo buộc là “phản động” do CIA của Mỹ cài cắm. Tiếp đó, hai nhà thơ Hoàng Cầm và Hoàng Hưng cũng bị bắt giữ với cùng tội danh vào năm 1982.
Chưa hết, chính quyền mới còn áp dụng rộng rãi chính sách học tập cải tạo đối với hàng trăm ngàn sĩ quan, công chức, và nhân viên của chế độ cũ. Đáng nói hơn, công an có thể thẳng thừng đưa một người đi cải tạo mà không cần thông qua bất kỳ phiên tòa xét xử nào. Điển hình nhất là việc chính quyền đã bỏ tù 1.652 người Việt Nam hồi hương từ đảo Guam sau khi cố gắng vượt biên, mà không cần thông qua xét xử.
Năm 1985: Bộ Luật Hình sự đầu tiên của nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa (được sửa đổi vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997)
Không lâu sau khi thống nhất đất nước, tại phiên họp đầu tiên vào ngày 2/7/1976, Quốc hội khóa 6 đã thông qua nghị quyết đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Sau thống nhất, trong nước lúc này tồn tại song hành hai mô hình kinh tế khác nhau: nền kinh tế kế hoạch hóa ở miền Bắc và nền kinh tế thị trường ở miền Nam. Chính bối cảnh xã hội đặc biệt này đã khiến hệ thống pháp lý mà chính quyền miền Bắc áp dụng chung cho cả nước bắt đầu bộc lộ nhiều bất cập.
Để khắc phục cho các tình trạng này, Quốc hội khóa 6 đã tiếp tục chỉ đạo các cơ quan ban ngành soạn thảo một văn bản pháp luật mang tính toàn diện hơn. Quan trọng hơn, mục tiêu của lần soạn thảo này còn là việc thể chế hoá đường lối lãnh đạo của đảng cộng sản trong việc chi phối nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, vốn đang được triển khai trên cả nước. Đây là mô hình kinh tế đã được công nhận ở bản Hiến pháp năm 1980.
Kết quả là vào ngày 27/6/1985, Quốc hội thông qua Bộ Luật Hình sự đầu tiên của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có hiệu lực từ ngày 1/1/1986.
BLHS 1985 khi đó đặt trọng tâm vào việc bảo vệ chế độ và quyền sở hữu của nhà nước. Tội phạm được định nghĩa là các hành vi có “tính nguy hiểm cho xã hội” như hành vi xâm phạm độc lập, chủ quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa hoặc xâm phạm chế độ kinh tế tập trung.
Một đặc trưng khác nữa, chính là sự phân biệt rạch ròi giữa quyền sở hữu của nhà nước và quyền sở hữu của công dân thành hai chương riêng biệt. Điều này đã phản ánh rất rõ nét tư duy của thời kỳ bao cấp.
Song, chính tư duy làm luật này đã gây ra các mâu thuẫn nội tại. Sự mâu thuẫn này thể hiện rõ nhất ở chỗ, trong khi chính sách “Đổi Mới” (năm 1986) khuyến khích phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận kinh tế tư nhân, thì BLHS năm 1985 với các quy định cứng nhắc về tội phạm kinh tế và sự ưu tiên tuyệt đối cho sở hữu nhà nước, lại trở thành một rào cản.
Thêm vào đó, bộ luật này cũng không dự liệu được khả năng phát sinh của nhiều loại tội phạm mới, có gốc rễ từ nền kinh tế thị trường, như tội phạm tham nhũng quy mô lớn, tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng, và đặc biệt là sự bùng phát của tội phạm ma túy. Theo số liệu năm 1986, toàn ngành kiểm sát đã thụ lý 7.762 vụ án, truy tố 4.395 vụ án liên quan đến kinh tế. Đến năm 1998, con số tội phạm hình sự đã tăng lên gần một triệu vụ.
Trước những thực tiễn trên, BLHS năm 1985 đã phải trải qua bốn lần “chắp vá”, trải dài từ năm 1989 đến 1997.
Năm 1989: Sửa đổi BLHS năm 1985 lần 1
Bản sửa đổi của BLHS năm 1985 đầu tiên được Quốc hội thông qua vào ngày 28/12/1989, rồi được Hội đồng Nhà nước công bố vào ngày 2/1/1990 và có hiệu lực ngay sau đó.
Ở lần sửa đổi này, các nhà làm luật tập trung vào việc bổ sung một số tình tiết ở một số điều luật; tăng mức tiền phạt, mức án tù; thêm án tử hình vào nhiều tội danh mới; cũng như bổ sung Điều 96a về tội danh tàng trữ, mua bán, sản xuất chất ma túy. Cụ thể:
- Tại các quy định của Phần chung được sửa đổi, bổ sung như: Điều 23 bổ sung quy định phạt tiền linh hoạt theo mức độ và tình hình tài sản; Điều 41, 42 sửa đổi tổng hợp hình phạt khi bị kết án nhiều tội, tránh vượt quá mức cao nhất; Điều 44, 53 hoàn thiện quy định về án treo và xóa án tích (thử thách 3 năm).
- Tại Phần các tội phạm được sửa đổi, bổ sung như: mở rộng tình tiết “có tổ chức hoặc chuyên nghiệp” cho nhiều tội danh từ Điều 97 đến 201; điều chỉnh đáng kể khung phạt tiền tại các Điều 90 tới 218 (áp dụng hành vi vi phạm hàng không, hàng hải, tài nguyên, quyền tác giả, v.v.); bổ sung Điều 96a quy định về các tội liên quan đến ma túy với khung phạt tù nghiêm khắc nhất lên đến tử hình; sửa đổi khung hình phạt tăng nặng với các tội cố ý gây thương tích (Điều 101, 109), giao cấu với người dưới 16 tuổi (Điều 114), cướp của (Điều 151), đầu cơ (Điều 165), v.v.
Cũng theo đó, nội dung nổi bật của lần sửa đổi, bổ sung đầu tiên này có thể kể đến như:
- Điều chỉnh mức phạt tiền linh hoạt, bảo đảm tương thích với hậu quả và tài sản người phạm tội, dao động từ vài trăm nghìn đến hàng tỷ đồng;
- Tăng cường hệ thống tổng hợp hình phạt, đảm bảo không vượt mức tối đa và nhất quán sự định đoạt hình phạt khi xét xử nhiều tội;
- Hoàn thiện hơn các quy định án treo và xóa án tích;
- Thắt chặt chế tài với tội phạm nghiêm trọng và có tổ chức; đặc biệt với tội phạm về ma túy, cướp tài sản, buôn bán hàng cấm, luật sửa đổi, bổ sung có khung phạt từ vài năm tù cho đến tử hình;
- Đối với tội cố ý gây thương tích và giao cấu với trẻ em, khung hình phạt được mở rộng rõ rệt, từ cải tạo không giam giữ cho đến 20 năm tù.
Năm 1991: Sửa đổi BLHS năm 1985 lần 2
Luật số 55-LCT/HĐNN8 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 1985 được Hội đồng Nhà nước công bố ngày 16/8/1991, đánh dấu lần sửa đổi thứ hai của bộ luật này. Nội dung sửa đổi, bổ sung được xác định nhằm mục đích tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật hình sự và mở rộng chế tài đối với các hành vi nguy hiểm mới nổi trong xã hội. Những điểm thay đổi bao gồm:
- Điều 205a về tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, đặt nền móng cho việc xử lý hành vi vi phạm quyền dân sự nhưng mang động cơ gây rối trật tự xã hội. Đây cũng là điều khoản tiền thân cho Điều 331 về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân của Bộ luật Hình sự 2015;
- Điều 112 mở rộng về tội hiếp dâm, quy định rõ giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi là hiếp dâm, tăng khung hình phạt tối đa lên đến tử hình;
- Điều 100 bổ sung chế tài phạt tiền thay thế hình phạt tù áp dụng cho các tội kinh tế, với mức phạt tiền từ 300.000 đồng đến 3 triệu đồng hoặc gấp 2 đến 10 lần giá trị vật phạm pháp;
- Nhiều điều luật khác như Điều 103, 134, 157, 169, 174, 226, v.v. được sửa đổi để tăng khung hình phạt, xử lý chặt chẽ các tội về chức vụ, kinh tế, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng.
Bản sửa đổi lần này ghi nhận những điểm đáng chú ý như sau:
- Lần đầu tiên một điều khoản về “tự do dân chủ” được đưa vào quy định của Bộ luật Hình sự (Điều 205a);
- Tiếp tục tăng nặng hình phạt với các tội xâm hại tình dục trẻ em, nhất là trẻ vị thành niên;
- Áp dụng phạt tiền trong tội phạm kinh tế là cải cách được đánh giá là tiến bộ, linh hoạt trong chế tài xử lý nhằm bắt nhịp thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế thị trường, mở cửa đầu tư tư nhân;
- Tiếp tục mở rộng các tình tiết tăng nặng và khung hình phạt với các tội có tổ chức, vi phạm nghiêm trọng quy định quản lý kinh tế và công vụ. Điều này cũng đặt nền móng cho các công cuộc trấn áp tham nhũng sau này.
Năm 1992: Sửa đổi BLHS năm 1985 lần 3
Ngày 22/12/1992, Quốc hội ban hành Luật số 4-L/CTN sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 1985. Nội dung của lần sửa đổi này nhằm hướng đến việc thắt chặt các vi phạm liên quan đến kinh tế, tham nhũng và an ninh trật tự, các điều khoản được sửa đổi cụ thể như sau:
- Điều 97 về tội buôn lậu tăng khung phạt từ 2 – 7 năm, lên 5 – 12 năm nếu hành vi thuộc diện có tổ chức, chuyên nghiệp, tài sản buôn lậu có giá trị lớn; đặc biệt mức hình phạt được nâng lên 10 – 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình khi hành vi tội phạm thuộc loại đặc biệt nghiêm trọng;
- Điều 100 bổ sung hình thức phạt tiền cho Điều 96a (tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma tuý) và Điều 97 (tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới), mức tối đa bằng 10 lần giá trị hàng hóa phạm pháp;
- Điều 134 và 135 về các tội lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bổ sung thêm tình tiết có tổ chức, dùng thủ đoạn xảo quyệt, giá trị lớn, tái phạm, lợi dụng chức vụ với khung hình phạt từ 3 – 12 năm tù;
- Điều 167 về tội làm, bán hàng giả có khung phạt từ 1 – 7 năm tù, tăng lên khung 5 – 15 năm đối với loại tội phạm nghiêm trọng và áp dụng mức hình phạt 12 – 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình đối với loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
- Điều 169 về tội trốn thuế có mức phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm; tăng lên 3 – 12 năm nếu vi phạm nhiều lần, số tiền rất lớn hoặc tái phạm;
- Các tội tham nhũng, cố ý làm trái, nhận hối lộ, v.v. (Điều 139, 174, 221 đến 227) đều được nâng khung phạt, thêm hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ và tịch thu tài sản của người phạm tội.
Một vài điểm nổi bật của lần sửa đổi này có thể kể đến như:
- Thắt chặt khung hình phạt với các tội có mức định khung là phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, bằng cách nâng cao mức hình phạt;
- Mở rộng hình phạt đối với các tội phạm kinh tế như tăng thời gian phạt tù có thời hạn, phạt tiền gấp nhiều lần giá trị thiệt hại;
- Bổ sung thêm các hình phạt bổ sung bên cạnh phạt tù có thời hạn, như hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ từ 2 đến 5 năm sau khi chịu án.
Năm 1997: Sửa đổi BLHS năm 1985 lần 4
Lần sửa đổi sau cùng của BLHS năm 1985 được đánh dấu qua văn bản Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 10/5/1997.
Lần sửa đổi này tập trung vào việc mở rộng quy định thời hạn áp dụng các hình phạt bổ sung trong Phần chung, gồm: cấm đảm nhiệm một số chức vụ, cấm làm một số nghề nhất định (Điều 28) kéo dài từ 2 đến 5 năm; tước quyền công dân (Điều 31) kéo dài từ 1 đến 5 năm; điều chỉnh quy trình tổng hợp hình phạt giữa các bản án (Điều 42).
Về Phần tội phạm, bản sửa đổi bỏ cụm từ “gây hậu quả nghiêm trọng” tại các điều 182, 186, 190, 194 để mở rộng phạm vi xử lý, cùng với việc bổ sung, nâng điều chỉnh khung hình phạt cho tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi hoặc ở lại nước ngoài trái phép (Điều 88).
Một vài điểm nổi bật của lần sửa đổi này có thể kể đến như:
- Thời hạn bổ sung cho hình phạt phụ rõ ràng, có khung cụ thể cho hình thức án tù treo hoặc các án nhẹ khác;
- Điều chỉnh lại mức hình phạt của Điều 88 để tăng hiệu quả xử lý tội tổ chức, cưỡng ép xuất nhập cảnh bất hợp pháp, phản ánh mục tiêu phòng, chống tội phạm xuyên biên giới.
Năm 1999: BLHS mới ra đời, thay thế BLHS năm 1985
Hơn một thập kỷ với bốn lần bị sửa đổi, BLHS 1985 đã trở thành một văn bản mang trong mình nhiều sự “chắp vá” phức tạp với nhiều quy định không còn phù hợp trong thời kỳ mới.
Nhận thấy tính cấp thiết của yêu cầu cải cách, Nghị quyết Trung ương 4 (tháng 12/1997) của Ban Chấp hành Trung ương xác định một trong những mục tiêu chính yếu là bãi bỏ những tội danh trong BLHS 1985, vốn được hình thành trên cơ sở nền kinh tế tập trung quan liêu.
Các chính sách kinh tế trước đó, thời kỳ mà BLHS 1985 ra đời, đã hình sự hóa nhiều hoạt động kinh doanh tư nhân hoặc các hoạt động thị trường bị coi là “tư sản mại bản”, “đầu cơ tích trữ”.
Việc bãi bỏ các tội danh này trong bộ luật cũ là một bước tiến lớn, giúp giải tỏa gánh nặng pháp lý và tâm lý cho các doanh nghiệp, cá nhân khi tham gia vào nền kinh tế.
Đến tháng 12/1999, Quốc hội khóa 10 chính thức thông qua một BLHS mới, thay thế hoàn toàn BLHS 1985, và có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2000. Bộ luật mới này có dung lượng tăng lên đáng kể với 24 chương và 344 điều, bổ sung thêm nhiều tội danh gắn liền với nền kinh tế thị trường như các tội về rửa tiền, phá sản giả hay thao túng thị trường chứng khoán v.v.
So với BLHS trước đó, BLHS lần này hợp nhất hai tội gồm: xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản công dân. Đặc biệt, các tội phạm về môi trường được hệ thống hóa trong một chương riêng với 10 tội danh khác nhau.
Đồng thời, các nội dung về quyền con người, quyền tự do tôn giáo và các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cũng được cụ thể hóa.
Năm 2009: Sửa đổi BLHS năm 1999 lần 1
Sau 10 năm áp dụng, BLHS 1999 tiếp tục được sửa đổi vào năm 2009 nhằm thích ứng với yêu cầu phòng, chống tội phạm mới và quá trình hội nhập quốc tế. Luật số 37/2009/QH12 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999, được Quốc hội khóa 12 ban hành và chính thức có hiệu lực vào ngày 1/1/2010. Luật này tập trung sửa đổi, bổ sung vào ba nhóm nội dung lớn: lượng hóa lại mức phạt đối với các nhóm tội phạm về tham nhũng, tăng cường bảo vệ quyền trẻ em đối với các nhóm tội phạm xâm hại trẻ em và làm rõ hơn các hành vi, mức hình phạt đối với các vi phạm trong lĩnh vực kinh tế, môi trường, công nghệ cao. Cụ thể:
- Điều 278 về tội tham ô tài sản, Điều 279 về tội nhận hối lộ, Điều 283 về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi, Điều 289 về tội đưa hối lộ được sửa đổi mức giá trị tài sản định khung tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự tăng 500.000 đồng lên 2.000.000 đồng; riêng tại Điều 289 về tội đưa hối lộ được bãi bỏ hình phạt tử hình ở mức kịch khung;
- Điều 199 về tội mua bán phụ nữ được sửa thành tội mua bán ngườinhằm mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự và mở rộng chủ thể được pháp luật bảo vệ;
- Các nhóm tội phạm về các lĩnh vực như kinh tế (Điều 161 về tội trốn thuế, Điều 181 về tội thao túng giá chứng khoán, Điều 251 về tội rửa tiền, v.v.), môi trường (Điều 185 về tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam, Điều 191 về tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại, v.v.), công nghệ cao – Internet (Điều 224 về tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số; Điều 225 về tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số, v.v.) đều được sửa đổi, bổ sung nhằm cụ thể hóa hành vi phạm tội, tăng mức hình phạt nhằm răn đe.
Năm 2015: BLHS mới ra đời, thay thế BLHS năm 1999
Tính đến thời điểm năm 2015, Việt Nam đã có năm bản hiến pháp (nếu không kể đến Việt Nam Cộng hòa). Bản Hiến pháp gần nhất do Quốc hội khóa 13 ban hành vào năm 2013, với nhiều quy định mới được cho là “tiến bộ” vì sẽ tập trung vào các giá trị của quyền con người, quyền công dân. Việc này đã tạo ra một yêu cầu cấp bách phải có một BLHS mới, toàn diện hơn để tương thích với tinh thần của Hiến pháp.
Cạnh đó, giai đoạn này chứng kiến sự gia tăng số lượng tội phạm đến từ nhiều lĩnh vực mới như tiền mã hóa, chứng khoán, môi trường, v.v. mà các cơ chế xử lý hình sự truyền thống đã tỏ ra bất cập.
Vào ngày 27/11/2015, Quốc hội thông qua BLHS 2015, bao gồm tổng cộng 426 điều luật thuộc 26 chương, thể hiện rõ nguyên tắc cốt lõi “không có tội, không có hình phạt nếu không có luật”.
BLHS 2015 chứa nhiều quy định mới, trong đó có quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại (tổ chức kinh tế kinh doanh vì lợi nhuận) đối với một số tội danh, chủ yếu thuộc các trường hợp như buôn lậu, trốn thuế, gây ô nhiễm môi trường hay có vi phạm về an toàn thực phẩm, v.v.
Đặc biệt, đây cũng là thời điểm đánh dấu sự ra đời của các Điều 117, 331 để xét xử phần lớn các vụ án bị quy kết là lợi dụng các quyền dân chủ để xâm phạm lợi ích nhà nước. Cả hai điều luật này từ lâu đã được nhận định là rất “mơ hồ”, tuy nhiên, nhà nước vẫn chưa một lần đem ra để thảo luận sửa đổi hay bổ sung chi tiết.
Ở một diễn biến khác, ngay sau khi được thông qua, BLHS 2015 đã đối mặt với một cuộc khủng hoảng lỗi kỹ thuật pháp lý nghiêm trọng chưa từng có khi dư luận đã phát hiện hơn 90 lỗi lập pháp trong văn bản luật này.
Giữa cuộc khủng hoảng về lỗi kỹ thuật đó, một cuộc “bàn lại” chính sách khác đã nổ ra, xung quanh Điều 292 của bộ luật về tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông. Điều luật 292 đã hình sự hóa các hành vi kinh doanh một số dịch vụ như trò chơi điện tử, sàn thương mại điện tử, v.v mà không có giấy phép. Một cộng đồng các doanh nghiệp công nghệ, giới khởi nghiệp đã phản ứng dữ dội vì cho rằng điều luật này “quá rộng hay mơ hồ” gây cản trở tư duy đổi mới, sáng tạo – ngược với tinh thần của cuộc cách mạng 4.0 đang diễn ra.
Năm 2017: Sửa đổi BLHS năm 2015 lần 1
Trong diễn biến tiếp theo, Quốc hội đã thực hiện một bước đi để hạ nhiệt dư luận, bằng cách ban hành ngay Nghị quyết 144/2016/QH13 nhằm lùi hiệu lực thi hành của BLHS 2015 và ba luật liên quan để có thời gian rà soát lại.
Kết quả của quá trình này là sự ra đời của bản “chắp vá” – Luật số 12/2017/QH14 – có trọng tâm rà soát, chỉnh lý lên đến 141 điều sai sót của BLHS 2015, bao gồm bãi bỏ Điều 292, vốn đang gây tranh cãi.
Cuối cùng, cả Luật sửa đổi năm 2017 và BLHS 2015 đã cùng có hiệu lực vào ngày 1/1/2018.
Năm 2025: Sửa đổi BLHS năm 2015 lần 2
Gần đây nhất, Bộ Luật Hình sự năm 2015 tiếp tục được Quốc hội khóa 15 đem ra thảo luận và thông qua nội dung sửa đổi vào ngày 25/6.
Đáng chú ý, Bộ Công an lần này lại là đơn vị được giao chủ trì soạn thảo dự án sửa đổi Bộ luật Hình sự, thay vì Bộ Tư pháp như trước đây.
Điểm nổi bật của lần sửa đổi này là quy định mới sẽ bỏ án phạt tử hình đối với tám tội danh. Theo đó, các bản án cho tám tội danh này nếu đã được tuyên trước ngày 1/7 mà chưa thi hành án thì sẽ được chuyển thành án tù chung thân.
Điều 109 Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền
Điều 110 Tội gián điệp
Điều 114 Tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nhà nước
Điều 194 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh – phòng bệnh
Điều 250 Tội vận chuyển trái phép chất ma túy
Điều 353 Tội tham ô tài sản
Điều 354 Tội nhận hối lộ
Điều 421 Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược
Tám tội danh được bỏ án tử hình trong Bộ Luật Hình sự năm 2015.
Đến nay, qua nhiều lần sửa đổi, số lượng án tử hình trong BLHS đã giảm đáng kể qua các năm: từ 44 tội (năm 1985) xuống còn 29 tội (1999), 22 tội (năm 2009), 18 tội (2015) và giờ chỉ còn 10 tội (2025).
Đọc thêm:



