Các báo cáo gần đây cho biết, giá nhà liên tục leo thang tại nhiều đô thị.
Đến hết Quý 2/2025, giá căn hộ bình quân ở Hà Nội rơi vào khoảng 76 triệu đồng/m². Mức giá trung bình ở TP. HCM là 77-82 triệu đồng/m² (tăng khoảng 48%), trong khi tại Đà Nẵng là 66,4 triệu đồng/m² (tăng khoảng 70%) so với thời điểm sáu năm về trước.
Trong khi đó, mức thu nhập bình quân của người dân lao động hiện nay tỏ ra quá sức để gánh vác các chi phí sinh hoạt hằng tháng, chứ chưa bàn đến việc tích lũy để mua nhà.
Theo điều tra của phóng viên Luật Khoa tạp chí, mức thu nhập bình quân của lao động phổ thông tại Hà Nội là 6-8 triệu đồng/tháng. Trong khi, mức chi phí sinh hoạt trung bình hằng tháng lên đến 8-9 triệu đồng.
Giữa “cơn bão giá” của thị trường bất động sản và chi phí sinh hoạt, câu hỏi đặt ra là liệu người dân có còn “dám” sinh con? Xu hướng hạn chế sinh sản như hiện nay sẽ dẫn đến những hệ lụy gì, và liệu nhà nước đã vào cuộc thích đáng?
Mời quý độc giả theo dõi loạt bài Dân số già và thách thức khuyến sinh:


Người trẻ có được tự do lựa chọn việc sinh con ?
Trên khắp các mặt báo nhà nước, việc sinh con được tuyên truyền và thiêng liêng hóa như là quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng đối với chính mình hay thậm chí là xã hội.
Báo chí và dư luận thường phê phán rằng việc các cặp đôi “e ngại” hay “e sợ” kết hôn và sinh con khiến cho tỷ lệ sinh giảm, là nguyên nhân đưa đến việc thiếu nguồn lực lao động trong xã hội, hay trầm trọng hơn, còn dẫn đến những hệ lụy xấu về an sinh, an ninh, thậm chí là môi trường.
Tuy nhiên, nếu chỉ vội vàng lên án, kết tội những cá nhân từ chối làm cha mẹ, mà không xét đến hoàn cảnh sống thực tế của họ, sẽ là một cái nhìn bất công.
Vấn đề cần đặt ra và xem xét kỹ càng, đó là: liệu người trẻ có thực sự có quyền chủ động trong việc lựa chọn kết hôn và sinh con hay không? Hay chính hiện thực đời sống mới là thành trì cản bước họ ra quyết định lập gia đình?
Khi giấc mơ tạo dựng “mái nhà” trở nên xa vời
Thị trường bất động sản tại Việt Nam đang trải qua một đợt tăng trưởng chóng mặt, khiến số tiền mà người dân cần bỏ ra để sở hữu một bất động sản, đặc biệt là ở những thành phố lớn, ngày càng lên cao.
Các báo cáo cho biết, nửa đầu năm nay, giá nhà liên tục leo thang tại nhiều đô thị lớn khiến thị trường xuất hiện nguy cơ tạo “bong bóng bất động sản”.
Báo cáo của Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam (VARS) cho thấy, giá chung cư tại Hà Nội đã tăng đến 87% trong vòng sáu năm, tương đương mỗi năm tăng gần 15%.
Nguồn cung nhà ở cũng ngày càng lệch pha khi phân khúc cao cấp chiếm tới 62% tổng lượng chào bán cả nước, trong khi căn hộ bình dân trở nên khan hiếm, chỉ chiếm chưa tới 4-7% tại Hà Nội và TP. HCM.
Báo cáo còn chỉ ra rằng, trái với đà tăng chóng mặt của giá bất động sản, thu nhập bình quân của người lao động tăng chỉ khoảng 10%, hiện đạt trung bình 8,3 triệu đồng/tháng. Điều này chứng tỏ rằng khả năng tiếp cận và thỏa mãn nhu cầu về nhà ở của đa số lao động ngày càng trở nên xa vời, khi tồn tại một khoảng cách quá lớn giữa giá cả thị trường so với số tiền họ có thể dành ra để mua cho mình một mái nhà che nắng, che mưa. Đó là chưa kể, họ còn trang trải hàng loạt chi phí khác, thậm chí, còn phải nghĩ đến chi phí cho việc sinh đẻ.
Không chỉ giá bán mà giá thuê bất động sản cũng không chịu nằm ngoài làn sóng leo thang. Theo ghi nhận của báo Lao Động, giá thuê nhà trọ, “chung cư mini” tại Hà Nội đã đồng loạt tăng từ giữa tháng Sáu, nhà trọ giá rẻ tăng trung bình 10%, trong khi chung cư mini tăng từ 10% đến 15%.
Chưa kể, giá điện và nước tại các cơ sở này vốn dĩ đã bị đội chi phí vô hình của các chủ cho thuê, nay tiếp tục có lý do tăng thêm khi EVN thông báo tiếp tục tăng giá điện từ tháng 5/2025.
Theo tìm hiểu của phóng viên Luật Khoa tạp chí về nhu cầu nhà ở và nguồn cung-cầu nhà ở cho thấy:
- Số lượng các dự án nhà ở điển hình như của Vingroup, Sun Group, Novaland, v.v. vẫn tăng trưởng mạnh trong 3 năm gần đây, chưa có dấu hiệu dừng lại. Hoạt động đầu tư, “lướt sóng” các căn hộ chung cư hoạt trong các dự án trải dài từ Bắc đến Nam tuy đã chậm lại nhưng các mặt hàng này không có dấu hiệu sẽ giảm giá trong tương lai.
- Mặt khác, giá nhà đất ở các khu vực ngoại thành thủ đô (các quận, huyện cũ: Bắc Từ Liêm, Gia Lâm, Tây Hồ) vẫn có dấu hiệu tiếp tục tăng mạnh, từ mức 100-200 triệu/m² năm 2023, đến nay đã có giá 300-400 triệu/m². Đây là giá của những căn nhà trong ngõ, ngách.
- Ở Hưng Yên, quê nhà của tổng bí thư Tô Lâm, giá nhà đất đã đồng loạt tăng kể từ khi sau sáp nhập, thậm chí là vượt cả giá nhà đất ở Hà Nội với chênh lệch lên tới vài chục triệu/m². Tương tự các tỉnh như Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) hay các tỉnh Tây Nam Bộ cũng ghi nhận giá nhà đất tăng kể từ ngày 1/7.
Tiền lương và chi phí sinh hoạt chặn đứng ước mơ làm cha mẹ
Việc mua nhà có thể là tính toán dài hạn, thậm chí, người ta vẫn có thể chọn giải pháp ở thuê khi giá nhà vượt tầm với. Trong khi, bài toán chi tiêu sinh hoạt là một nan đề được đặt ra mỗi ngày mà không ai có thể né tránh.
Chi phí sinh hoạt luôn là nỗi trăn trở của bất kỳ ai khi tham gia vào thị trường lao động. Nói cách khác, đây là một rào cản vô hình kìm hãm sự tự do lựa chọn được hưởng một cuộc sống sung túc và đầy đủ. Bởi, công thức dễ thấy là: với cùng một mức lương không đổi, chi phí sinh hoạt càng thấp, người lao động càng có khả năng trang trải đủ đời sống và có thể tích lũy cho các khoản phát sinh khác.
Gánh nặng “cơm, áo , gạo, tiền” sẽ còn chồng chất hơn nữa khi cặp đôi đón thêm “thành viên mới” trong nhà, với hàng loạt phát sinh, đòi hỏi hàng trăm ngàn sự tính toán.
Trong loạt bài về “Sống nhờ lương” đăng trên Luật Khoa tạp chí, tác giả Hiếu Mạnh đã phác họa sự căng bức của những người lao động có mức thu nhập trung bình tại các đô thị lớn, khi phải đối diện với quá nhiều khoản cần chi. Áp lực này càng lớn khi tốc độ tăng của lương bổng không theo kịp đà tăng của vật giá. Tình huống đó đòi hỏi sự tính toán chi li thật kỹ của người lao động trước khi quyết định mua về cho mình bất cứ cái gì, thậm chí, trước khi đón một “thành viên mới” về nhà.
Bảng dưới đây mô tả các khoản chi tiêu bình quân của một người lao động có thu nhập 10 triệu/tháng, tại TP. HCM và Hà Nội:

Tổng quan cho thấy, một người lao động nếu có thu nhập 10 triệu đồng/tháng và biết tính toán, chắt chiu hết mức có thể đáp ứng chi tiêu cơ bản khi chỉ có một con nhỏ, và gần như không thể có khoảng tích lũy, thậm chí không thể tính đến các nhu cầu cầu giải trí, hội họp.
Mặt khác, các số liệu cũng cho thấy, số tiền còn lại của lương sau khi trừ chi phí tại hai thành phố Hà Nội và TP. HCM không lớn (xấp xỉ 30% tổng thu nhập), trong khi mức dư sau chi tiêu tại TP. HCM có phần nhỉnh hơn Hà Nội. Như vậy, phần chi tiêu cho thân nhân, hay con cái, và dự trù cho các sự cố, các khoản phát sinh thêm, cũng rất eo hẹp.
Từ đó, có thể nhận ra, nếu gia đình có thêm một thành viên thì các chi phí phụ sẽ cao hơn, phát sinh nhiều loại như trong bảng liệt kê: gửi con đi nhà trẻ, tiền ăn, v.v.
Những kỳ vọng đầu tư dài hạn như giáo dục, y tế dù là cho thành viên nào trong gia đình, cũng đều rất hạn chế. Việc có con sẽ trở thành một thách thức kinh tế, không chỉ trong trước mắt, mà còn là dài hạn với các bậc cha mẹ có mức thu nhập trung bình.
Theo phân tích của Stag, chi phí cơ bản để nuôi một đứa trẻ từ lúc sinh ra đến 22 tuổi sẽ rơi vào mức trên 4,2 tỷ đồng. Đây là phép tính với giả định các khoản chi ở mức cơ bản nhất, và dành cho các nhu cầu thiết thân nhất, như chi phí khám chữa bệnh, đồ dùng cá nhân, học phí, ăn uống, v.v.

Tuy nhiên, như tác giả Hiếu Mạnh đã phân tích, việc kiếm tiền và chi tiền cho con chỉ là điều kiện cần, cha mẹ sẽ còn phải tốn nhiều công sức lao động, thì giờ để chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ từ việc ăn uống, bệnh tật, gửi con đi nhà trẻ hay đưa, đón con đi học, v.v. Tất thảy những lao động chăm sóc này tuy không thể quy đổi ra một dạng chi phí hữu hình, nhưng cũng là một dạng chi tiêu, khi họ phải tốn hao, thời giờ, thể lực, thậm chí phải đánh đổi cơ hội thu nhập.
Có thể thấy, bài toán chi tiêu và thách thức giá nhà đã tạo nên thành lũy phong kín tâm nguyện kết hôn, sinh con của nhiều người, thậm chí có người phải đành đoạn từ bỏ ước mơ làm cha mẹ.
Thực trạng ấy đang diễn ra giữa bối cảnh xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn dân số già, với nguy cơ thiếu hụt lực lượng lao động – động lực để phát triển kinh tế và duy trì sự ổn định xã hội. Trước tình huống đó, Nhà nước đã làm gì và liệu những quyết sách ấy có ổn thỏa?



