Như đã đề cập ở kỳ trước, “nguyên tắc đại diện theo tỷ lệ” (proportional representation) trong bầu cử hướng đến việc bảo đảm tính đa dạng trong cơ quan lập pháp. Nguyên tắc này chính là cơ sở lý luận cho “hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ” (Proportional Representation – PR) được nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước Âu châu, áp dụng. Theo nguyên tắc trên, mỗi nhóm trong xã hội được đảm bảo sẽ có đại diện của mình trong nghị viện, số lượng đại diện đông hay ít tùy theo mức độ ủng hộ mà họ nhận được.
Thử lấy ví dụ sau để hình dung rõ hơn nội dung của nguyên tắc vừa nêu. Giả sử tại Việt Nam có 60% người dân ủng hộ xe chạy xăng, 30% ủng hộ xe điện và 10% ủng hộ phương tiện sử dụng nhiên liệu sinh học. Nếu Quốc hội có 100 ghế thì số dân biểu đại diện cho ba phương án chính sách lần lượt sẽ là 60, 30 và 10.
Mô hình đại diện theo tỷ lệ: người dân bỏ phiếu thế nào?
Từ nguyên tắc đại diện theo tỷ lệ, người ta xây dựng nên một mô hình bầu cử giúp đảm bảo nguyên tắc trên được tuân thủ và hiện thực hóa. Mô hình bầu cử này, như trên đã nêu, có tên là “hệ thống đại diện theo tỷ lệ”, gọi tắt là PR. Trong hệ thống PR này, mỗi một khu vực bầu cử có nhiều ghế, cử tri bỏ phiếu cho đảng mà họ ủng hộ, và số ghế trong cơ quan lập pháp được phân bổ dựa trên tỷ lệ phiếu bầu mà mỗi đảng nhận được.

Hầu hết các quốc gia sử dụng thể thức PR đều yêu cầu các đảng phải đạt một ngưỡng tối thiểu (electoral threshold) về tỷ lệ phiếu bầu, thường từ 3% đến 5% tổng số phiếu, để được phân bổ ghế. [1] Việc đặt ra ngưỡng này nhằm hạn chế tình trạng quyền lực bị phân tán do sự hiện diện của quá nhiều đảng nhỏ trong quốc hội, vốn có thể làm phức tạp hóa quá trình lập pháp.


Bài này diễn giải đầy đủ và các ví dụ rất xuất sắc. Các phân tích của tác giả khá khớp với những cuốn sách mà mình đọc về phương thức bầu cử, vậy nên tác giả Hoàng Dạ Lan đang khiến mình đau đầu về việc viết một bài cùng chủ đề nhưng với cách trình bày khác. Nhưng có lẽ sẽ không thừa nếu mình viết thêm một bài như vậy để độc giả hiểu hơn về các kỹ thuật trong một nền dân chủ.