Sự kiện 2-28 được xem là nỗ lực đấu tranh dân chủ tiên phong trong lịch sử Đài Loan. Dù bị đàn áp thảm khốc, phong trào đã gieo xuống hạt mầm cho tiến trình vận động dân chủ hóa trên đảo quốc này.
Đài Loan được người phương Tây gọi là “Ilha Formosa”, Hán dịch là 美麗島 tức “Mỹ Lệ Đảo” hay “hòn đảo xinh đẹp”, khi họ mới phát hiện ra hòn đảo này vào những năm 1500. Trái với danh xưng yêu kiều và bình lặng, hòn đảo này từng phải trải qua nhiều biến cuộc, loạn ly, với nhiều lần “đổi chủ”: người Tây Ban Nha, người Hà Lan, gia tộc Trịnh Thành Công trong thế kỷ 17, nhà Mãn Thanh trong thế kỷ 19, Đế quốc Nhật Bản từ năm 1895 đến năm 1945, và Quốc Dân Đảng từ năm 1945 đến năm 1992, trước khi trở thành một nền dân chủ độc lập cho đến nay.
Có thể nói, căn tính lịch sử, văn hóa lẫn chính trị của đất nước và nhân dân Đài Loan đã được hình thành thông qua những thăng trầm thời cuộc ấy. Bài viết này và bài viết tiếp theo sẽ trình bày một góc nhỏ trong lịch sử của Đài Loan: thời kỳ thiết quân luật, như một ví dụ để phản ánh thứ căn tính ấy. Xét theo dòng lịch sử lập quốc và lập hiến của đảo quốc mang tên xinh đẹp này, sự kiện 2-28 cùng với sự kiện Trung Lịch và sự kiện Cao Hùng có thể được coi là ba sự kiện quan trọng góp phần vào quá trình dân chủ hóa tại Đài Loan.
Mời quý độc giả theo dõi loạt bài Dân chủ hóa tại Đài Loan:
![Dân chủ hóa tại Đài Loan - Kỳ 1: Học thuyết Tôn Trung Sơn và nền tảng tư tưởng lập hiến. Hình ảnh Tôn Trung Sơn và bài xã luận trên tờ Dân Báo năm 1905 về "Chủ nghĩa Tam Dân" (hình nền). [Đây là lần đầu tiên các ý tưởng được trình bày bằng văn bản. Khái niệm đầu tiên xuất hiện trên tờ Dân Báo năm 1905 là "Tam đại chủ nghĩa" (三大 主義, Ba nguyên tắc lớn) thay vì "Tam dân chủ nghĩa" (三民主義) như ngày nay.] Và trang đầu tiên của bản Hiếp pháp Trung Hoa Dân Quốc năm 1947. Nguồn ảnh: Public domain/Shanghai Museum. Đồ họa: Thanh Tường/Luật Khoa.](https://luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/07/Ky-1-Ton-Trung-Son-scaled.jpg)



Sự kiện 2-28
Sự kiện 2-28 là tên gọi một phong trào nổi dậy chống chính quyền tại Đài Loan vào năm 1947, kết thúc bởi một cuộc đàn áp đẫm máu của chính quyền Quốc dân Đảng. [1]
Sự việc là kết quả của một thời gian dài áp đặt chính sách độc quyền kinh tế dưới thời chính quyền Quốc dân Đảng (Kuomintang – KMT). Tất cả bắt nguồn từ động thái diễn ra vào ngày 27/2/1947, khi một người góa phụ tên Lâm Giang Mại (Lin-Chiang Mai) bị sáu điều tra viên và bốn cảnh sát tịch thu tiền và hàng hóa vì bán thuốc lá lậu. Bà cũng bị một điều tra viên hành hung bằng báng súng chỉ vì cầu xin trả lại tiền và số thuốc lá hợp pháp.
Chứng kiến sự tàn bạo của các nhân viên công quyền, những người xung quanh đã cố gắng can thiệp. Điều tra viên Phó Học Thông (Fu Hsueh-t’ung) đã nổ súng cảnh cáo nhằm giải tán đám đông, nhưng lại gây ra cái chết của Trần Văn Khê (Ch’en Wen-hsi), một người qua đường. Những hành động sử dụng bạo lực quá mức đó đã kích hoạt hàng loạt các cuộc biểu tình trên toàn quốc đảo nhằm chống lại chính quyền KMT. Theo giới nghiên cứu và quan sát, nguyên nhân sâu xa của vụ việc còn đến từ tình trạng lạm phát, tham nhũng, thất nghiệp liên tục gia tăng, và động thái đàn áp các quyền lợi của người Đài Loan bản địa.
Cuộc biểu tình diễn ra ngay ngày hôm sau, 28/2/1947, với 2.000 người tập trung trước Cục Độc quyền Thuốc lá đòi công lý cho người góa phụ và cái chết của người qua đường vô tội, đồng thời đòi trưởng cục phải từ chức. Hoảng sợ trước đoàn biểu tình, cảnh sát đã nổ súng, giết chết hai người, dẫn đến sự leo thang căng thẳng và bạo lực trong tháng tiếp theo.
Các lãnh đạo địa phương đã đệ trình một bản kiến nghị 32 điểm lên chính quyền KMT với những điểm đáng chú ý như quyền tự chủ lớn hơn cho tỉnh Đài Loan, sự minh bạch của chính phủ và bầu cử tự do.
Tuy nhiên, đáp lại lời kêu gọi kiềm chế và hòa giải, vào tháng Ba cùng năm, Tổng thống Tưởng Giới Thạch đã chỉ đạo đưa Quân đội Quốc dân vào Đài Loan với sự lãnh đạo của tướng Trần Nghi, người đã ra lệnh giải tán Ủy ban Hòa giải và “những nhóm bất hợp pháp khác.” [2] Khoảng từ 3.000 đến 4.000 người mà đa số là trí thức và nhân vật văn hóa Đài Loan đã bị giết ngay sau mệnh lệnh của tổng thống Tưởng và tư lệnh Trần. Sự kiện 2-28 sau này trở thành một cái cớ để chính quyền KMT tăng cường đàn áp nhắm vào những người Đài Loan bản địa, vốn có nếp sống và nền văn hóa khác biệt người đại lục di cư sang.
Một năm sau sự kiện 2-28, cuộc nội chiến giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng Sản Trung Quốc diễn ra ngày càng khốc liệt, chính quyền Quốc dân Đảng phải ban hành Các điều khoản tạm thời có hiệu lực trong thời kỳ tổng động viên quốc gia nhằm trấn áp cuộc nổi loạn của phe Cộng sản, cùng với đó là việc áp đặt lệnh thiết quân luật năm 1948 đối với các vùng chiến sự (Đài Loan lúc đó không bị xem là vùng chiến sự). [3] [4] Động thái này đã giúp mở rộng quyền lực của tổng thống, đặc biệt là sau khi bản hiến pháp năm 1947 bị tạm đình chỉ. Điều này đã mở đường cho thời kỳ “Khủng bố trắng” (White Terror) vốn bắt đầu tại đại lục, nay lan tới Đài Loan vào kéo dài tại hòn đảo này tới tận năm 1987.
Màu đỏ tượng trưng cho chủ nghĩa cộng sản trong khi màu trắng tượng trưng cho chủ nghĩa chống cộng. Như tên gọi, thời kỳ Khủng bố trắng đánh dấu bằng những vụ mất tích hàng loạt, những cuộc giết chóc không qua xét xử, và hoạt động đàn áp có hệ thống những cá nhân bất đồng chính kiến, nhắm vào những người bị KMT nghi là cộng sản hoặc thân cộng.
Theo ước tính của Mary Brandt, thuộc Trung tâm nghiên cứu An ninh Đài Loan (Taiwan Center for Security Studies), có khoảng 18.000-28.000 người Đài Loan đã bị sát hại hoặc mất tích trong thời kỳ Khủng bố trắng. [5] Cũng trong thời kỳ này, lệnh thiết quân luật tại Đài Loan có hiệu lực vào ngày 20/5/1949.
Tranh cãi pháp lý về “lệnh thiết quân luật tại Đài Loan”
“Lệnh thiết quân luật Đài Loan” được Trần Thành, một cộng sự thân tín của Tưởng Giới Thạch và cũng là thống đốc của Đài Loan thời điểm đó, ban hành vào ngày 19/5/1949 với mục đích loại bỏ bất kỳ người cộng sản nào lén lút đặt chân lên Đài Loan. [6] Vị tướng họ Trần đã âm thần nhận chỉ đạo từ nguyên tổng thống Tưởng để ban hành lệnh này, mà không thông qua quyền tổng thống lúc đó là Lý Tông Nhân, lẫn Hành pháp viện và Lập pháp viện. Trong khi đó, Tưởng Giới Thạch, dù trước đó đã nhường chức tổng thống cho Lý vào ngày 18/1/1949, vẫn lấy danh nghĩa là “lãnh tụ cách mạng” để khống chế và chỉ huy tất cả. [7]
Một số tranh cãi pháp lý đã nổ ra xung quanh lệnh thiết quân luật năm 1949 tại Đài Loan của Trần Thành. [8] Nhiều luận điểm cho rằng vị tướng họ Trần đã ban hành lệnh này là hoàn toàn vi hiến và vi phạm các quy định liên quan đã ban hành trước đó.
Trong hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc, Điều 39 ghi rằng chỉ có tổng thống mới có quyền lực để ban bố thiết quân luật và nó phải được Lập pháp viện chuẩn thuận. Ngoài ra, Điều 43 quy định trong trường hợp Lập pháp viện nghỉ họp, tổng thống có thể thông qua nghị quyết của Hội đồng Hành pháp viện và ban hành lệnh khẩn cấp nhưng lệnh này phải được trình cho Lập pháp viện để phê chuẩn trong vòng 1 tháng sau khi ban hành.
Chưa kể, mục đầu tiên của Các điều khoản tạm thời về trấn áp phiến loạn Cộng sản quy định rằng trong thời gian huy động để trấn áp phiến loạn, tổng thống có thể thông qua nghị quyết của cuộc họp Hành pháp viện, áp dụng các điều khoản khẩn cấp mà không bị hạn chế bởi các thủ tục quy định tại Điều 39 hoặc Điều 43.
Tạ Tòng Dân, một cựu nhà lập pháp, cho rằng điểm mấu chốt của các quy định pháp lý liên quan đến thiết quân luật là “chỉ có tổng thống mới có quyền ban hành thiết quân luật và phải được Lập pháp viện chuẩn thuận.” [9] Nói cách khác, “lệnh thiết quân luật Đài Loan” do Trần Thành ban hành với tư cách là thống đốc tỉnh Đài Loan và tổng tư lệnh của Bộ tư lệnh đồn trú tại tỉnh Đài Loan là hoàn toàn vi hiến và vô hiệu ngay từ đầu.
Dù có thể thấy rõ ý định thật sự của Trần Thành là nhằm kiểm soát dòng người tháo chạy từ đại lục để hạn chế sự thâm nhập của người Cộng sản, lệnh thiết quân luật của ông đã trở thành lệnh thiết quân luật kéo dài lâu nhất lịch sử với thời gian 38 năm và 56 ngày. Hệ quả là trong thời kỳ này, các đạo luật trấn áp liên tục được ban hành, mở rộng phạm vi lạm dụng nhân quyền của chính quyền KMT đối với các hoạt động dân sự. [10]
***
Cuộc nổi dậy của nhân dân Đài Loan trong Sự kiện 2-28 tuy đã bị đàn áp nặng nề, nhưng nó đã để lại một hạt giống quan trọng cho quá trình dân chủ hóa ở đảo quốc “xinh đẹp” này: đó là tâm lý chủ động đấu tranh giành quyền lợi và tự do, sẵn sàng chống cả chính phủ. [11] Cũng từ dấu ấn của ngọn cờ tiên phong ấy, các phong trào dân chủ sau này đã nhận được sự ủng hộ của quần chúng dễ dàng hơn.
Đặc điểm tâm lý vừa nêu cùng những áp lực quốc tế, cộng với nền kinh tế phát triển nhanh chóng và sự lớn mạnh của một tầng lớp trí thức có học vấn, đã trở thành những yếu tố chính thúc đẩy phong trào dân chủ hóa tại Đài Loan nảy mầm và phát triển mạnh, ngay từ trong khung cảnh hà khắc của thời kỳ thiết quân luật. Bài viết tiếp theo sẽ làm rõ những yếu tố này.
Đọc thêm:

Chú thích
1. Huang Rong-Can. (2025) The 228 Incident: History, Memorialization, and Collective Memory – Taiwan Center for Security Studies. Retrieved August 06, 2025, from https://taiwancss.org/the-228-incident-history-memorialization-and-collective-memory/
2. Xem [1]
3. The National Assembly. (2025) Temporary Provisions Effective During the Period of Communist Rebellion – Taiwan Info. Retrieved August 06, 2025, from https://web.archive.org/web/20160303230804/http://taiwaninfo.nat.gov.tw/ct.asp?xItem=11700&CtNode=103&htx_TRCategory=&mp=
4. Han Cheung. (2025) Taiwan in Time: The precursor to total control – Taipei Times. Retrieved August 06, 2025, from https://www.taipeitimes.com/News/feat/archives/2016/05/15/2003646284
5. Xem [1]
6. Xem [4]
7. Last, First. (2025) 新台灣新聞週刊 – 戒嚴令根本無效 台灣人被裝肖仔. Retrieved August 06, 2025, from https://newtaiwan.com.tw/bulletinview.jsp?bulletinid=80923
8. Xem [7]
9. Xem [7]
10. Xem [4]
11. Monique Chu. (2025) A look back on the road to democracy – Taipei Times. Retrieved August 06, 2025, from https://www.taipeitimes.com/News/local/archives/1999/12/09/0000014181


