“Khi giá nhà đất và chi phí sinh hoạt trở thành liều ‘thuốc tránh thai’ hiệu quả” trong những năm qua, xã hội Việt Nam đã tiến gần bước ngoặt “dân số già”. Trước nguy cơ về biến động xã hội và khủng hoảng thiếu về lao động, Nhà nước đã có những chính sách gì, và liệu có thỏa đáng?
Mời quý độc giả theo dõi loạt bài Dân số già và thách thức khuyến sinh:


“Dân số vàng” – một thời đã xa
Hệ quả từ sự thắt chặt sinh nở đã đưa đến dấu mốc năm 2011, Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số. Đây là một bước ngoặt nhân khẩu học với tốc độ chưa từng có trong lịch sử đất nước.

Theo UNFPA, một nước sẽ bước vào giai đoạn “bắt đầu già” khi dân số cao tuổi chiếm 10% tổng số dân và giai đoạn “già” khi người cao tuổi chiếm 20% tổng số dân. Cũng theo đánh giá mới đây của tổ chức này, Việt Nam là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới.
Chỉ số già hóa (được tính theo phần trăm số người trên 60 tuổi trên số trẻ em dưới 15 tuổi) tăng nhanh từ 2009 với con số ban đầu là 35,5; năm 2014 tăng lên 43,3; năm 2015 là 47,1; năm 2016 là 50,1; năm 2017 là 53,4; đến năm 2018 là 56,9; v.v. và đà tăng chưa có chiều hướng chậm lại.
Cụ thể hơn, báo Nhân Dân ngày 6/6/2023 ghi nhận đến năm 2019, số người từ 60 tuổi trở lên chiếm khoảng 11,9%-12% dân số. Lượng người cao tuổi tiếp tục tăng nhanh, đạt gần 12,8% dân số vào đầu năm 2021 với 12,5 triệu người, trong đó có 8,1 triệu người từ 65 tuổi trở lên và gần 2 triệu người từ 80 tuổi trở lên. Theo dữ liệu cư dân quốc gia, tính đến ngày 9/2/2023, cả nước có hơn 16,18 triệu người từ 60 tuổi trở lên, chiếm gần 17 % dân số.
Theo phân loại của UNFPA, xã hội có “dân số già” được định nghĩa là xã hội có tỷ lệ người ≥ 60 tuổi vượt 20% tổng dân số.
Với tốc độ “già hóa”, Việt Nam được dự báo sẽ bước sang xã hội có dân số “già” trong khoảng từ 17 đến 20 năm nữa, nhanh hơn hầu hết các quốc gia khác như Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, v.v. Dự báo đến năm 2050 tỷ lệ người cao tuổi ở Việt Nam sẽ vượt mức 25%.
Cuộc “khủng hoảng thiếu” về dân số và những hệ lụy
Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn giảm sinh báo động từ năm 2022.
Ngày 11/7/2025, phát biểu tại lễ mít tinh hưởng ứng Ngày Dân số Thế giới, bà Đào Hồng Lan, bộ trưởng Bộ Y tế, cho biết tổng tỷ suất sinh đã giảm xuống mức thấp nhất trong lịch sử và dự kiến tiếp tục giảm trong những năm tới. Cụ thể, tổng tỷ suất sinh đã giảm từ 2,01 con/phụ nữ tại năm 2022 xuống 1,96 năm 2023, và tiếp tục giảm xuống 1,91 vào năm 2024.
Mức sinh giảm đáng lo ngại, đặc biệt ở các đô thị lớn như TP. HCM, nơi tỷ suất sinh chỉ 1,32 con/phụ nữ. Tại các tỉnh Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, con số cũng không khá hơn khi chỉ dao động quanh 1,47-1,62 con/phụ nữ.

Trả lời báo Dân Trí, ông Lê Thanh Dũng, lãnh đạo Cục Dân số (Bộ Y tế) thông tin nguyên nhân chính đến từ việc thay đổi độ tuổi kết hôn ở thanh niên Việt Nam. Các báo cáo cho biết độ tuổi kết hôn trung bình đang ngày càng tăng, từ 24,1 (năm 1999) lên 25,2 (2019) và đến 2024 là 27,2. Bên cạnh đó, sự khác biệt cũng thể hiện rõ theo khu vực địa lý. Phụ nữ ở các khu vực thành thị có độ tuổi kết hôn cao hơn phụ nữ ở khu vực nông thôn, tỷ suất sinh cũng tỷ lệ thuận theo độ tuổi này.
Lãnh đạo này cho biết thêm: “Theo tính toán, năm 2024 với mức sinh thấp thì tỷ lệ tăng dân số bình quân là 0,90% và sẽ giảm còn 0,68% năm 2029, giảm tiếp còn 0,06% vào năm 2054, và từ năm 2059 dân số bắt đầu tăng trưởng âm.”
Ngày 28/8/2024, phát biểu tại Hội thảo quốc tế tham vấn chính sách, ông Phạm Vũ Hoàng, phó cục trưởng Cục Dân số còn phân tích các nguyên nhân khác đưa đến việc mức sinh giảm như “đô thị hóa, kinh tế phát triển, áp lực tìm kiếm việc làm, nhà ở, chi phí sinh hoạt, chi phí nuôi dạy và chăm sóc con gia tăng. Bên cạnh đó, hạ tầng cơ sở có nhiều bất cập như thiếu trường học, học phí và viện phí cao, không động viên mọi người sinh con, v.v.”
Việc tăng trưởng âm về tỷ suất sinh sẽ để lại hệ quả khôn lường cho xã hội.
Hệ quả đầu tiên, như đại diện Cục Dân số cảnh báo, là sự suy thoái kinh tế và tăng mức thâm hụt ngân sách, khi thị trường thiếu hụt lực lượng lao động trẻ, thiếu nhân tố (tái) sản xuất chuỗi cung ứng thị trường, kèm theo gia tăng chi phí chăm sóc người già.
Thứ hai, dân số già hóa diễn ra nhanh hơn, độ lệ thuộc người cao tuổi tăng mạnh, kéo theo mất cân đối quỹ bảo hiểm xã hội, tiềm ẩn rủi ro ngân sách không đủ chi trả chế độ hưu trí, y tế.
Thứ ba, quy mô dân số có thể suy giảm tự nhiên nếu mức sinh thấp kéo dài, dẫn đến vỡ kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng như trường học, bệnh viện, nhà ở, đưa đến tình trạng các cơ sở này trở nên dư thừa hoặc không phù hợp quy mô dân số mới.
Khi dân không muốn sinh, nhà nước đã làm gì?
An sinh xã hội vốn là vấn đề rất phức tạp và chồng chéo. Bởi lẽ đó, các vấn đề an sinh cần được giải quyết một cách đồng bộ, lâu dài và liên tục.
Từ những trình bày bên trên, ta thấy rõ vấn đề khuyến sinh cũng là một thách thức lớn cho giới quản lý, khi nó cần giải quyết đồng bộ với những vấn đề liên quan, như việc làm, thu nhập, nhà ở, giá cả thị trường, lẫn chính sách phúc lợi, v.v.
Những năm qua, nhà nước cũng đã thể hiện những nỗ lực nhất định.
Ngày 28/4/2024, Chính phủ ban hành Quyết định số 588/QĐ-TTg về Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030. Chương trình này nhằm kêu gọi người trẻ kết hôn trước 30 tuổi và hỗ trợ các gia đình sinh đủ hai con ở các thành phố có tỷ suất sinh thấp.
Ngày 3/6, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh sửa đổi về Pháp lệnh Dân số 2003, có hiệu lực ngay lập tức. Theo đó, vợ chồng, cá nhân tự quyết định thời gian sinh con, số con, khoảng cách giữa các lần sinh dựa trên điều kiện sức khỏe, thu nhập thực tế, môi trường sống, và khả năng nuôi dạy con.
Đáng chú ý, trong hồ sơ Dự thảo Luật Dân số 2025, trình Quốc hội thông qua vào tháng 10, Bộ Y tế đề xuất chi tổng ngân sách dự kiến hơn 5.300 tỷ đồng cho các chính sách khuyến sinh, bao gồm khoản chi 650 tỷ đồng bằng tiền mặt hoặc hiện vật, dành cho các phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi; ưu đãi tài chính hỗ trợ tiền mặt hoặc hiện vật cho những gia đình chỉ sinh hai con gái hơn 151,8 tỷ đồng; chi hỗ trợ sinh hoạt phí; hỗ trợ chi phí ăn đối với trẻ em học mầm non; miễn, giảm chi phí khám thai định kỳ khoảng 24,3 tỷ đồng; v.v.
Bên cạnh đó, về thời gian nghỉ thai sản, Bộ Y tế đề xuất lao động nữ sinh con thứ hai được nghỉ thai sản 7 tháng, các trường hợp khác giữ nguyên hiện hành 6 tháng theo Bộ luật Lao động hiện hành.
Mặt khác, từ ngày 1/7, nam giới đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) cũng được mở rộng chế độ thai sản theo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) năm 2024. Luật Mới bổ sung đối tượng được hưởng là lao động nam đang tham gia BHXH (bắt buộc) nếu vợ của người này sinh con. Theo đó, tăng khoảng thời gian nghỉ thai sản của lao động nam lên 60 ngày từ 30 ngày và có thể nghỉ nhiều lần miễn sao tổng số ngày nghỉ không vượt quá quy định và lần nghỉ cuối cùng nằm trong 60 ngày đầu sau khi vợ sinh.
Luật mới cũng tạo thêm nhiều điều kiện hưởng quyền lợi cho lao động nữ. Cụ thể, hỗ trợ đặc biệt cho lao động nữ mang thai hoặc lao động nữ mang thai hộ trong trường hợp thai nhi không may mất thì cả lao động nữ và người chồng đều được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như trường hợp sinh con; bổ sung điều kiện hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con mà trước đó phải nghỉ việc để điều trị vô sinh; người mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ và người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ cũng được hưởng trợ cấp thai sản một lần mặc dù không tham gia đóng BHXH bắt buộc hoặc không đủ điều kiện nhưng người chồng của người mang thai hộ đã đóng BHXH bắt buộc từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm người mang thai hộ sinh con; v.v.
Hơn thế, Luật BHXH (sửa đổi) năm 2024 cũng có ưu đãi về mức trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận con nuôi.
Ngày 15/7, Chính phủ ban hành Nghị định 207/2025/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, phụ nữ độc thân có nguyện vọng sinh con được thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (IVF). Khác với Nghị định số 10/2015/NĐ-CP chỉ được áp dụng kỹ thuật IVF cho cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa thì Nghị định 207 đã nới lỏng về điều kiện áp dụng IVF.
Bấy nhiêu hỗ trợ liệu có đủ xoay chuyển tình hình?
Song song với sự ban hành các chính sách khuyến sinh một cách rời rạc, nhà cầm quyền Việt Nam vẫn thể hiện ưu tiên hậu thuẫn cho các chính sách về phát triển kinh tế. Từ việc ban hành các chính sách quản lý hành chính (như Nghị định 168/NĐ-CP) hay chính sách về môi trường (như Chỉ thị 20/2025/TTg), đều có mục đích “đánh mạnh” vào kinh tế và hạn chế cơ hội phát triển sinh kế vốn dĩ đã có sự khiêm tốn về mọi mặt.
Chưa kể, những vấn đề về “bong bóng bất động sản” vẫn còn tồn tại một cách âm ỉ chưa được giải quyết. Những quyền lợi cho người dân từ các chính sách khuyến sinh chưa cho thấy rõ sự quan tâm, cũng chưa tỏ rõ công dụng nào. Phải chăng những chính sách này chỉ đang phục vụ ý nghĩa cho việc trình diễn sự ban ơn bằng quyền lực chính trị, hơn là một giải pháp thực chất?
Ông Matt Jackson, trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam, trong buổi đối thoại với thanh niên được tổ chức gần đây cho rằng các áp lực kinh tế-xã hội khiến mong muốn có con trở nên bất khả thi, khi vẫn còn tồn tại hiện trạng nhà ở đắt đỏ, thiếu dịch vụ chăm sóc trẻ em, công việc không ổn định, bất bình đẳng giới, thiếu tiếp cận các dịch vụ sức khỏe sinh sản, khó tìm được người bạn đời phù hợp, và những lo ngại ngày càng tăng về xung đột hay biến đổi khí hậu, v.v.
Theo ông này, câu hỏi đặt ra nên là: “Những rào cản nào đang ngăn cản các cá nhân và cặp đôi có được số con mong muốn, và làm sao tháo gỡ những rào cản đó?” Trong khi các chính sách quốc gia hiện nay chỉ đang cố giải quyết câu hỏi: “Làm sao để khuyến khích phụ nữ sinh thêm con?”
Cũng theo chuyên gia từ UNFPA, thay vì chỉ đề ra những giải pháp tình thế, có tính khuyến khích hay hỗ trợ, Việt Nam cần tập trung gỡ bỏ những rào cản cơ cấu đang cản trở quyền sinh sản của người dân như chi phí nuôi con, bất bình đẳng trong công việc, và gánh nặng việc nhà, đồng thời đầu tư vào nguồn nhân lực và chất lượng dân số để tận dụng cơ hội dân số vàng.
“Quyền sinh sản không phải là ‘chuyện riêng của phụ nữ’ mà là quyền con người. Và chúng ta đều có trách nhiệm bảo vệ và thúc đẩy quyền tự quyết về sinh sản ấy,” ông Jackson nhấn mạnh.

