Như đã trình bày trong bài viết trước, chính quyền đã từ lâu triển khai đề án số hóa và lưu trữ dữ liệu dân cư để phục vụ cho công tác quản lý. Điều đáng nói là, các dữ liệu được thu thập không chỉ dừng lại ở danh tính, nhân thân, tức những trường thông tin hiển thị trên căn cước, mà nay đã hướng đến bao trùm cả các thông tin về tài sản, tài chính, quan điểm, thị hiếu, thói quen sinh hoạt, di chuyển, v.v. của người dân.
Bài trước cũng đã chỉ ra những điểm tương đồng giữa Việt Nam và Trung Quốc trong mô hình thu thập dữ liệu tài chính, tín dụng của người dân, đặt ra câu hỏi về mối quan hệ ý tưởng giữa hai nhà nước này trong vấn đề quản trị xã hội. Sự liên hệ gần gũi ấy, khiến ta không thể không hoài nghi: mô hình giám sát và chấm điểm cư dân mà Trung Quốc đang áp dụng, liệu một ngày có được nhân bản tại Việt Nam?
Những nỗ lực thu thập dữ liệu của người dân về mọi mặt của chính quyền trong suốt nhiều năm qua, không thể không khiến người ta đau đáu về câu hỏi ấy. Và từ đây, lại dấy lên thêm nhiều câu hỏi nữa:
Việc thu thập và kiểm soát một lượng dữ liệu khổng lồ và toàn diện của người dân như vậy, liệu có phải là để phục vụ cho một hình quản lý toàn diện, bao quát, thậm chí có tính “giám sát”? Nếu đúng, thì một mô hình quản lý như vậy, liệu có khả thi, có hữu hiệu và hứa hẹn? Đâu là những điều còn gây băn khoăn, e ngại về một mô hình như thế? Kinh nghiệm từ nước ngoài có thể cho ta thấy điều gì về đề án đầy tham vọng này?

