Dạo giờ, cõi mạng trầm luân trong những cuộc đấu tố về một nốt trầm mang tên Trấn Thành, và ẩn đâu đó là những nốt cao mang tên… công an, nốt lạc điệu mang tên Đoàn Hương… Giữa tiếng đàn muôn điệu ấy, có đôi lời thiết nghĩ là cần bàn trong bầu không khí đấu tố căng thẳng y như săn phù thủy những năm gần đây.
Vừa hay, câu chuyện nốt trầm Trấn Thành khóc cho nghệ sĩ Phạm Đức Thành lại diễn ra không lâu sau khi Bộ Công an quyết định nhốt KOL vào lồng thể chế.
Dưới quan điểm lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, báo chí, văn chương và nghệ thuật từ lâu đã được xác định là những công cụ tư tưởng – phải phục vụ trực tiếp cho mục tiêu chính trị, đặc biệt trong những thời điểm được coi là trọng đại như ngày Quốc khánh 2/9 hay 30/4 – đúng như lời khẳng định của báo Quân đội nhân dân: “Văn học, nghệ thuật không thể đứng ngoài chính trị, không thể tách khỏi sự lãnh đạo của giai cấp cầm quyền. Đó là quy luật […]”
Nghệ thuật có nên gắn liền chính trị?
Bàn về câu hỏi này, không thể không nhắc đến trào lưu Hiện thực xã hội chủ nghĩa (Socialist Realism) vốn rất nổi bật trong thế kỷ 20, khi mà nghệ thuật phải gánh vác vai trò của chính trị, với lý tưởng giai cấp. Nội dung này được Mao Trạch Đông tóm gọn như sau: “Trên thực tế, không hề tồn tại cái gọi là nghệ thuật vị nghệ thuật, một thứ nghệ thuật đứng cao hơn giai cấp, tách rời hay độc lập khỏi chính trị. Văn học và nghệ thuật vô sản là một bộ phận trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng vô sản.”
Trào lưu này không chỉ hướng đến chính trị hóa nghệ thuật, mà còn biến các kênh ngôn luận, biểu đạt khác như báo, đài trở thành tay sai của chế độ, công cụ của quyền lực. Lời tuyên bố sau đây của Lenin là một minh chứng rõ nét: “Báo chí là vũ khí sắc bén và mạnh mẽ nhất của Đảng chúng ta.”

