Tại một quê hương của những vết thương chưa lành hẳn, câu chuyện của 50 năm, lạ thay, lại cũng có thể được kể bằng câu chuyện của vài ba năm trước.
Chuyện là vào chiều tối ngày 20/7/2022, nhiều tờ báo hàng đầu tại Việt Nam bỗng đồng loạt gỡ tin bài về sự ra đi của một nhân vật lớn, được biết đến nhiều ở cả trong lẫn ngoài nước. [1] Nhân vật ấy là ông Tô Văn Lai, người sáng lập ra Trung tâm Thúy Nga Paris, hãng sản xuất băng đĩa và tổ chức chương trình ca múa nhạc quy mô vào hàng bậc nhất trong cộng đồng người Việt hải ngoại.
Động thái của các cơ quan truyền thông, lẽ hiển nhiên là kỳ cục, nhưng chẳng mấy khó hiểu và cũng không có gì lạ lẫm. Gần 15 năm trước đó, ông Lai và vợ thậm chí còn từng bị bắt giữ tại Việt Nam và bị báo đài trong nước không tiếc lời xỉa xói, trong lúc họ chỉ đơn thuần về nước sưu tầm các thước phim để đưa vào đĩa nhạc Paris by Night số 90. [2]
Thuộc nhóm những cá nhân đi đầu trong nỗ lực bảo tồn di sản âm nhạc của Việt Nam Cộng hòa tại hải ngoại, thật không quá khi gọi ông Tô Văn Lai là một nhà hoạt động văn hóa.
Thế nhưng, hình tượng nhà hoạt động văn hóa có sức ảnh hưởng của ông có lẽ vẫn chưa đủ lớn để che khuất nỗi sợ của bên thắng cuộc đối với một kẻ thù trong tâm tưởng. Lạ lùng ở chỗ, kẻ thù ấy lại là một cộng đồng vốn vẫn bị họ xem như kẻ bại trận phải “lưu vong” – cộng đồng những người Việt hải ngoại, và ông chủ của Thúy Nga là một thành viên tiêu biểu của cộng đồng ấy. Có thể thấy, sau mấy mươi năm, giữa người Việt quốc nội và người Việt năm châu vẫn chỉ có hòa bình chứ chưa thấy hòa giải.
Nguyên do của điều này có lẽ là bởi nhiều người Việt trong nước vẫn chưa hoặc chưa muốn nhận ra một điều đáng lý phải được hiểu từ nửa thế kỷ trước. Rằng, ở phía bên kia đại dương và đằng sau những lằn ranh địa lý vẫn là bao con người cùng họ chảy chung một dòng máu, nói chung một thứ tiếng, thậm chí, có thể vẫn đang nghe chung những bản nhạc mà hãng đĩa của ông Lai đã phát hành.
Từ sau ngày bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ, khi hàng hóa lẫn con người của hai nước đã có lại con đường giao lưu, thì cũng là lúc băng đĩa của Thúy Nga có lối tìm về Việt Nam. Dù không được cấp phép, người Việt vẫn cứ háo hức sao chép, chuyền tay nhau. Thậm chí, họ còn bất chấp rủi ro pháp lý để lén lút làm nhái và kinh doanh băng đĩa giả, lậu. [3][4]
Cấm cản và phân biệt, như vậy, dường như chỉ đến từ ý chí của nhà cầm quyền. Với người dân và với nền văn hóa nói chung, sẽ luôn có quy luật vận hành và cơ chế lựa chọn tự nhiên nhất: người ta sẽ tiếp nhận và lan tỏa những gì đẹp đẽ, xứng đáng và được ưa chuộng, phù hợp với tâm tình và mỹ cảm của con người. Và âm nhạc miền Nam xưa, xét như một sản phẩm văn hóa, sẽ chỉ tuân theo quy luật ấy.
Nhìn theo hướng trên, có lẽ không ai phải thấy băn khoăn hay ngạc nhiên trước sức sống mạnh mẽ trong 50 năm qua của nền âm nhạc Việt Nam Cộng hòa. Nền âm nhạc ấy vẫn sống, vẫn phát triển và lan tỏa, dù phải lưu lạc trên khắp năm châu và đã từng một thời bị chối bỏ tàn bạo trên chính quê nhà.
Để duy trì được sức sống như ngày nay, những người Việt tha phương – đại sứ của nền âm nhạc rực rỡ một thời – đã không hề bước đi trên một chặng đường bằng phẳng. Công lao và di sản ấy, cần được gọi tên và nhìn nhận thật rõ.
Một thời vàng son, một thời để nhớ
Trước năm 1975, miền Nam Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa đã có một thời vàng son của âm nhạc và kịch nghệ, với một nền công nghiệp giải trí – âm nhạc khá phát triển lúc bấy giờ.

Đô thành Sài Gòn khi ấy mọc lên nhiều hãng đĩa nhựa và băng cassette, con số được cho là lên đến vài chục hãng, với những cái tên “lớn” như Continental, Dĩa hát Việt Nam, Sơn Ca, Trường Sơn, Asia Sóng Nhạc, Minh Phụng, Hồng Hoa, v.v. [5]
Bên cạnh các hãng băng đĩa, thủ đô Việt Nam Cộng hòa xưa còn hội tụ những thương hiệu sản xuất âm nhạc lớn, cung cấp cả dịch vụ studio phòng thu lẫn sản xuất, phát hành các sản phẩm âm nhạc của các ca, nhạc sĩ. Dẫn đầu thị trường khi đó gồm bốn trung tâm lớn là Jo Marcel của nhà sản xuất âm nhạc Jo Marcel, trung tâm Mây Hồng của nhạc sĩ Y Vân, trung tâm tân cổ nhạc Hùng Cường của ca – nhạc sĩ Hùng Cường, và cơ sở thu băng Tú Quỳnh của giáo sư Phạm Mạnh Cương. [6]
Lớn mạnh nhất trong số đó là hãng Jo Marcel. Tính đến đầu năm 1970, hãng này đã cho sản xuất và phát hành 14 cuốn băng gốc, mỗi đợt sản xuất khoảng 2.000 bản, và lượng tiêu thụ tại quầy hàng băng đĩa của hãng này ước tính khoảng 50 bản/ngày.
Bên cạnh những băng cassette và đĩa thu, âm nhạc còn tiếp cận đến công chúng miền Nam xưa qua mạng lưới không nhỏ những sân khấu tại phòng trà, vũ trường. Đơn cử như đầu thập niên 1970, Sài Gòn nổi tiếng với “ngũ đại phòng trà” gồm Tự do, Queen Bee, Ritz, Baccara và Đêm Màu Hồng. [7] Ngoài ra, không thể không kể đến vũ trường – hộp đêm khét tiếng Sài Gòn ngay từ thời Pháp thuộc là Maxim’s. Bên trên đều là những cái tên mà có lẽ hầu như người dân thủ đô nào khi ấy cũng biết đến, dù cả đời có thể chưa từng bước chân vào.

Những năm tháng tồn tại của Việt Nam Cộng hòa còn là một thời hoàng kim của sân khấu cải lương. Đây là thể loại âm nhạc được ưa chuộng rộng rãi khắp nhiều tầng lớp nhân dân miền Nam bấy giờ. Toàn miền Nam khi ấy có tới khoảng 60 đoàn cải lương hoạt động. [8] Chỉ tính riêng khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn, đã có tới khoảng 40 rạp hát phục vụ loại hình sân khấu này. [9] Trong đó có những sân khấu nổi danh như Hưng Đạo, Quốc Thanh, Nguyễn Văn Hảo, Hào Huê, Lao Động thường xuyên trong cảnh “cháy vé”.
Nhưng băng, đĩa, phòng trà, vũ trường, hộp đêm, rạp hát, chỉ thuộc về phân khúc của giới trung lưu cho đến thượng lưu, hoặc những giang hồ lãng khách, dân chơi có nghề. Âm nhạc, cố nhiên không chỉ dừng chân trong những cộng đồng ấy.


Âm nhạc miền Nam trước năm 1975 còn là món ăn tinh thần giản dị, mộc mạc và được ưa chuộng rộng rãi trong giới bình dân của những công nhân, nông dân, cho đến học sinh, sinh viên. Âm nhạc đến với họ trong muôn vàn dáng vẻ: có thể là những gánh hát lưu động, những đoàn đờn ca tài tử của thôn xóm, hoặc những đội nhóm văn nghệ sĩ trẻ lưu diễn khắp nơi thuộc phong trào Du ca Việt Nam đình đám một thời. [10][11]
Hai mươi năm tồn tại và phát triển của nền âm nhạc Việt Nam Cộng hòa đã sản sinh ra hàng trăm ca sĩ và nhạc sĩ thành danh, để lại cho đời hàng chục ngàn nhạc phẩm và hàng chục vạn sản phẩm băng, đĩa ca nhạc. Những sản phẩm ấy đã dàn trải trên đa dạng các phong cách và thể tài khác nhau, qua đó tiếp cận hầu khắp mọi vùng miền, khắp thôn cùng ngõ hẻm để đến với mọi thành phần xã hội.
Khó khăn, ly tán không làm đứt gãy những cung đàn
Sau biến cố tháng Tư năm 1975, nền văn nghệ Việt Nam Cộng hòa tưởng chừng phải sụp đổ khi lớp lớp văn nghệ sĩ của miền Nam xưa hoặc phải rời xa xứ sở, hoặc phải buông bút, buông đàn để chịu cảnh lưu đày trên chính quê hương mình.
Thế nhưng, dẫu cho nền công nghiệp âm nhạc một thời thịnh vượng tại miền Nam đã không còn, những nhạc khúc vẫn tiếp tục sống để làm trợ lực, sinh khí cho bao con người vẫn còn tràn trề ý chí sống. Như thi sĩ Du Tử Lê chia sẻ, “thời điểm sau năm 1975, trong tình cảnh thất thố, lạc lõng nơi xứ người, âm nhạc dường như là điểm tựa tinh thần mạnh mẽ và duy nhất của những người thình lình trở thành kẻ mất gốc.” [12]
Hiện thực cũng cho thấy điều đó. Trong cảnh loạn ly, lưu lạc, cái ăn cái mặc còn phải chật vật, mà có những người vẫn chắt chiu từng đồng để dựng nên các trung tâm băng, đĩa âm nhạc. Và những trung tâm ấy có thể tồn tại, phát triển, cũng nhờ vào việc người ta sẵn sàng thắt lưng buộc bụng, dành dụm chi tiêu cho các sản phẩm văn nghệ.
Sự ra đời và sức sống của đơn cử một vài trung tâm ca múa nhạc hàng đầu hải ngoại như Thúy Nga Paris và Asia có thể là những minh chứng sinh động nhất.
Trước khi ra hải ngoại, Thúy Nga vốn là một hãng đĩa nhựa do ông Tô Văn Lai thành lập năm 1972 tại Sài Gòn. Trước năm 1975, trung tâm đã cho phát hành những đĩa thu tân nhạc gắn với tên tuổi các ca sĩ hàng đầu bấy giờ như Thái Thanh, Khánh Ly, Thanh Tuyền, v.v. [13] Ngoài ra, hãng này còn phát hành cả những băng đĩa cải lương.

Gia đình ông Tô Văn Lai vượt biên sang Pháp vào năm 1976. Phải sau 5 năm dành dụm, tiết kiệm từ những công việc chân tay vất vả, ông mới có thể tiếp tục giấc mơ làm nghệ thuật: cho mở lại tiệm băng nhạc Thúy Nga tại Paris vào năm 1981. Đến năm 1983, cuốn băng Thúy Nga Paris by Night đầu tiên ra đời, đưa thương hiệu của ông Lai trở thành một cầu nối, một tụ điểm của giới ca sĩ, nhạc sĩ Sài Gòn một thời lẫn những khán thính giả mộ điệu khắp nơi, và cả những hạt mầm văn nghệ của tương lai.
Từ đó đến nay, Trung tâm Thúy Nga đã phát hành tổng cộng 608 CD album, tổ chức 149 chương trình nhạc hội Paris by Night, 73 chương trình live show, và nhiều chương trình tìm kiếm tài năng âm nhạc trong cộng đồng người Việt hải ngoại. [14][15][16][17] Những chương trình nhạc hội của Thúy Nga được tổ chức ở nhiều nơi cả trong và ngoài nước Mỹ, mỗi buổi diễn thường thu hút vài nghìn người mua vé xem trực tiếp.

Những năm qua, Thúy Nga Paris còn gia tăng sức ảnh hưởng và sức lan tỏa nhờ tận dụng các nền tảng trực tuyến. Kênh YouTube chính của trung tâm là Thuy Nga hiện có tới gần 7 triệu lượt theo dõi, đã đăng tải hơn 5.000 video với tổng cộng 6,9 tỷ lượt xem. [18]
Có thể nói, Trung tâm Thúy Nga Paris trong 42 năm tồn tại ở hải ngoại đã không chỉ đóng vai trò của một “viện bảo tàng âm nhạc”, nơi bảo tồn di sản văn nghệ Việt Nam trên xứ người. Thúy Nga còn là một vườn ươm tạo những chồi non lẫn lá hoa của nghệ thuật Việt nơi đất khách.
Sau Thúy Nga Paris, trung tâm ca múa nhạc có sức ảnh hưởng lớn thứ nhì hải ngoại là Trung tâm Asia do nhạc sĩ Anh Bằng sáng lập vào năm 1982 tại Westminster, California. Trong 10 năm đầu tồn tại, Asia chỉ sản xuất các băng đĩa nhạc. Đến 1992, trung tâm mới tổ chức chương trình nhạc hội thu hình trực tiếp đầu tiên tại Las Vegas.

Từ sau thành công của đêm nhạc đầu tiên ấy, Asia đã thực hiện tổng cộng 82 chương trình nhạc hội thu hình trực tiếp, 21 chương trình ca nhạc đặc biệt, phát hành 397 CD và 80 băng cassette. [19][20][21][22] Không ít các nhạc sĩ, ca sĩ được trở lại với nghề, hoặc được đào tạo vào nghề từ không gian văn nghệ của trung tâm.
Tương tự Thúy Nga, Trung tâm Asia cũng tích cực tận dụng cơ hội gia tăng sức ảnh hưởng từ các nền tảng trực tuyến. Kênh YouTube chính của trung tâm là Asia Entertainment Official có tới 2,63 triệu người đăng ký theo dõi, đăng tải tổng cộng gần 5.400 video, với tổng lượt xem đạt gần 2,25 tỷ. [23]
Từ năm 2018, Trung tâm Asia do những khó khăn nhất định đã tạm ngừng hoạt động sản xuất các chương trình âm nhạc. Tuy vậy, kênh YouTube vẫn còn hoạt động để lưu trữ nhiều sản phẩm âm nhạc của trung tâm, và cũng thường xuyên cập nhật, đăng tải nội dung mới.
Quá khứ và tương lai trên cùng một trang nhạc
Nhận xét về giá trị và dấu ấn của hai trung tâm ca múa nhạc hàng đầu thế giới người Việt hải ngoại, nhạc sĩ Tuấn Khanh đã viết: [24]
“Cũng như Trung tâm Asia, Thúy Nga Paris ở hải ngoại không chỉ đem lại những chương trình giải trí, mà nó còn là phần vinh danh và xoa dịu vết thương lòng của giới văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam suốt một thời gian dài bị chìm trong bóng tối bởi định kiến và những sự cấm đoán. Dòng văn nghệ đó là niềm tự hào của tất cả những ai yêu mến thời đại mình đã sống và những ai nhìn nhận và trân trọng quá khứ.”
Mượn ý tưởng từ nhận định của nhạc sĩ Tuấn Khanh, có thể rút ra mấy giá trị chính mà những hoạt động văn nghệ hải ngoại đã đem lại cho cộng đồng người Việt:
- Đưa giới ca sĩ, nhạc sĩ của nền âm nhạc miền Nam xưa trở lại với sân khấu và vị trí dành cho họ;
- Khẳng định và phản ánh ý chí tự do nghệ thuật vượt trên mọi cấm đoán, trở ngại;
- Xoa dịu nỗi đau thời thế cho những người đã trải qua, tiếp thêm cho họ sức sống, nghị lực;
- Khơi gợi sự đồng cảm cho những người chưa trải, để thấu hiểu, cảm thông và mở lòng kết nối với thế hệ đi trước;
- Bảo tồn tiếng Việt, văn hóa Việt, và lan tỏa, phát triển ngôn ngữ – văn hóa Việt ra khắp năm châu;
- Lưu giữ bức tranh hiện thực của quá khứ, để bảo tồn sự thật lịch sử cho mai sau.
Ngoài những giá trị này, người viết cho rằng di sản âm nhạc Việt Nam Cộng hòa còn mang giá trị của một nhịp cầu hòa giải. Giá trị ấy đã được chứng minh ngay từ thời kỳ băng đĩa hải ngoại phải tuồn lậu về trong nước, phải sao chép và lan tỏa lén lút. Đến nay, sự phát triển của Internet và các nền tảng đa phương tiện trực tuyến khiến nhịp cầu này được vươn dài hơn, có thể đưa âm nhạc miền Nam xưa đến khắp mọi ngõ ngách cư lưu của người Việt.

Nói theo một cách khác, âm nhạc Việt Nam Cộng hòa đã xóa mờ không chỉ biên cương của địa lý, mà còn xô đổ thành trì ý thức hệ lẫn khoảng cách thế hệ. Giờ đây, người Việt từ bất kể phương trời nào, mang lập trường chính trị nào, tuổi tác ra sao, đều có thể tìm thấy điểm chung nơi sự yêu thích đối với một danh ca, một nhạc sĩ, một bản nhạc. Từ giao điểm ấy, cánh cửa thấu hiểu và hòa giải có thể được mở ra.
Thêm vào đó, những bản nhạc phản ánh hiện thực quá khứ, thân phận con người và thảm kịch chiến tranh sẽ là lời gợi nhắc cho thế hệ mai sau về bức chân dung một thời của dân tộc.
Đó có thể là lời nhắc gửi đến những mầm non của người Việt hải ngoại, để họ không lãng quên dân tộc, không lãng quên cội nguồn, không lãng quên ký ức của thân nhân. Từ đó, họ biết đón nhận văn hóa và con người Việt Nam như một bộ phận gắn liền với họ, trân trọng nhau, yêu thương và gắn bó nhau trong tình đồng bào.
Đó cũng có thể là lời nhắc cho những người trẻ trong nước vốn vẫn đang bị bủa vây bởi nền giáo dục lịch sử phiến diện, độc tài. Giờ đây, qua từng nốt nhạc, ca từ mà họ tiếp nhận, một lịch sử khác – lịch sử thực chất – có thể được hiện lên và truyền tải đến họ những gì bị che khuất. Biết đâu nhờ đó, người trẻ sẽ không chọn chối bỏ những thứ vốn là di sản gửi trao đến mình.
Với cách nhìn đó, người viết cho rằng di sản âm nhạc Việt Nam Cộng hòa nếu được gìn giữ cẩn thận, có thể sẽ đồng thời đóng vai trò của người gác đền sự thật, lẫn vị sứ giả của tình đồng bào.
Ngày nay khi nhìn lại, năm mươi năm qua không chỉ là chặng đường bảo tồn, mà còn là hành trình di sản. Trên hành trình nhiều cam go nhưng cũng thật ý vị ấy, âm nhạc miền Nam trước năm 1975 – một nét bản sắc Việt Nam – đã được điểm tô và phát quang rực rỡ hầu như ở bất cứ đâu có cộng đồng người Việt hiện diện.
Những khoảng cách giữa quá khứ với hiện tại và tương lai, lẫn những khoảng cách giữa những con người thuộc hai miền lập trường, chiến tuyến, giờ đây, có thể được hòa âm trong cùng một bản nhạc.
Luật Khoa ra mắt số báo đặc biệt: 70 năm Việt Nam Cộng hòa – Chân dung và Di sản


Số báo đặc biệt “70 năm Việt Nam Cộng hòa – Chân dung và Di sản” và bài viết Âm nhạc miền Nam: Phía sau “những xác người” là “kỷ vật cho em” của tác giả Tịch Dạ trong số báo.
Luật Khoa tạp chí theo đuổi đề tài Việt Nam Cộng hòa ngay từ những ngày đầu thành lập vào năm 2014, với nỗi tò mò sâu sắc về một trong những đề tài bị chính quyền che giấu và kiểm duyệt nặng nề nhất. Tò mò nhưng cũng nghe được tiếng lòng rung động của những người ở cả hai phía, chúng tôi tự gán cho mình cái sứ mệnh ghi chép lại không chỉ là dữ liệu lịch sử mà cả những tiếng lòng đó.
Số báo này là một nỗ lực như vậy. Đây không phải số báo đầu tiên của chúng tôi về Việt Nam Cộng hòa. Và chắc chắn không phải số báo cuối cùng. Ngoài các bài báo, chúng tôi còn có Dự án 1975, chuyên sưu tầm dữ liệu lịch sử – kể cả những câu chuyện kể của các nhân chứng.
Trong số báo này, bạn đọc sẽ cùng chúng tôi lần lại lịch sử của Việt Nam Cộng hòa từ khi chính thể này còn phôi thai trong trứng nước của Quốc gia Việt Nam cho tới những giây phút cuối cùng khi Dương Văn Minh đọc giấy khai tử vào trưa ngày 30/4/1975.
Đọc thêm:

Chú thích
1. Báo Nhà nước đồng loạt rút bài về ông Tô Văn Lai. (2024, December 24). Tiếng Việt. https://www.rfa.org/vietnamese/news/vietnamnews/features-about-the-biography-of-paris-by-night-founder-to-van-lai-withdrawn-07202022075855.html
2. Phương, C. (2007, November 16). Giám đốc Trung tâm Thúy Nga vào Việt Nam “quay phim lén” Báo Điện Tử an Ninh Thủ Đô. https://www.anninhthudo.vn/giam-doc-trung-tam-thuy-nga-vao-viet-nam-quay-phim-len-post13118.antd
3. Lan, L. (2004, April 2). Băng đĩa sao chép lậu: căn bệnh bất trị? TUOI TRE ONLINE. https://tuoitre.vn/bang-dia-sao-chep-lau-can-benh-bat-tri-27040.htm
4. Anhthu. (2005, June 25). Băng đĩa lậu vẫn trôi nổi. hanoimoi.vn. https://hanoimoi.vn/bang-dia-lau-van-troi-noi-63103.html
5. Admin, & Admin. (2022, July 22). Đôi nét về hãng đĩa Asia Sóng Nhạc thập niên 1960 của ông Nguyễn Tất Oanh. Nhạc Xưa. https://nhacxua.vn/doi-net-ve-hang-dia-asia-song-nhac-thap-nien-1960-cua-ong-nguyen-tat-oanh/
6. Doan, T. (2022, November 7). Một thời nghe và sang băng nhạc. Saigon Nhỏ. https://saigonnhonews.com/van-hoa-van-nghe/sai-gon-muon-neo/mot-thoi-nghe-va-sang-bang-nhac/
7. Xem [5]
8. VnExpress. (2025, April 8). Sài Gòn thời say mê cải lương. vnexpress.net. https://vnexpress.net/sai-gon-thoi-say-me-cai-luong-4862056.html
9. Xem [8]
10. Kha Tiệm Ly. (n.d.). Những gánh hát xưa – Trang thông tin của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tiền Giang. Trang Thông Tin Của Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Tiền Giang. https://vannghetiengiang.vn/news/Tap-but/Nhung-ganh-hat-xua-10263/
11. Du ca viet nam. (n.d.). https://web.archive.org/web/20140407063702/http://ducavn.nl/duca_files/LichSu.htm
12. Admin, & Admin. (2019, April 26). Âm nhạc hải ngoại sau năm 1975 được hình thành như thế nào? Nhạc Xưa. https://nhacxua.vn/am-nhac-hai-ngoai-sau-nam-1975-duoc-hinh-thanh-nhu-the-nao/
13. Xem: http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=133359&z=77&template=viewmainNVO.htm
14. Thúy Nga – Paris By Night Encyclopedia. (n.d.). Danh sách các CD và đĩa nhựa của trung tâm Thúy Nga. https://thuy-nga-paris-by-night.fandom.com/vi/wiki/Danh_s%C3%A1ch_c%C3%A1c_CD_v%C3%A0_%C4%91%C4%A9a_nh%E1%BB%B1a_c%E1%BB%A7a_trung_t%C3%A2m_Th%C3%BAy_Nga
15. Wikipedia. (2025, October 1). Danh sách sản phẩm của Trung tâm Thúy Nga. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_s%E1%BA%A3n_ph%E1%BA%A9m_c%E1%BB%A7a_Trung_t%C3%A2m_Th%C3%BAy_Nga
16. Xem [15]
17. Thúy Nga – Paris by Night Encyclopedia. (n.d.). V-Star. https://thuy-nga-paris-by-night.fandom.com/vi/wiki/V-Star
18. Xem: https://www.youtube.com/c/thuynga
19. Xem [15]
20. Xem [15]
21. Xem [15]
22. Xem [15]
23. Xem: https://www.youtube.com/@TheasiachannelTv
24. Ông Tô Văn Lai người sáng lập trung tâm Thúy Nga Paris vừa qua đời | viettin.de. (n.d.). http://ttdq.de/?q=content/%C3%B4ng-t%C3%B4-v%C4%83n-lai-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-s%C3%A1ng-l%E1%BA%ADp-trung-t%C3%A2m-th%C3%BAy-nga-paris-v%E1%BB%ABa-qua-%C4%91%E1%BB%9Di

