Người ta chọn ra một ngày để vinh danh phụ nữ, như một cách để đánh bóng hình tượng của một chế độ “tôn trọng nữ quyền”, hướng đến “bình đẳng giới”. Thế nhưng, ai cũng hiểu một lẽ: bên trong những cái tên, những khẩu hiệu, thường chứa đựng nhiều kỳ vọng hơn là hiện thực.
Nhìn lại một Việt Nam sau 80 năm có được một nhà nước xã hội chủ nghĩa, và sau 50 năm có lại một dải giang sơn nối liền, liệu rằng thân phận của người phụ nữ đã hoàn toàn thoát khỏi màn đêm phong kiến kể từ “Ngày Độc lập”? Và sau ngày thống nhất, liệu rằng phụ nữ cả nước có từng có được nhiều hơn những quyền tự do, bình đẳng mà họ đã có dưới chế độ miền Nam trước 1975?
Tôi không dám nói rằng mọi điều chia sẻ dưới đây đều là lẽ phải. Thế nhưng, là phụ nữ, và đặc biệt là phụ nữ trong một xã hội vẫn tuyên xưng là có tôn trọng phụ nữ, lại đang viết những dòng này trong một ngày được dành cho nữ giới, tôi nghĩ mình nên hiện thực hóa quyền tự do biểu đạt của mình.
Có lẽ, sau sự kiện “Giải phóng”, người ta sẽ mong đợi người phụ nữ Việt từ nay được bước ra ánh sáng, rũ bỏ những tối tăm mang tên chiến tranh, chia cắt và hy sinh. Nhưng, số phận nghiệt ngã của lịch sử đã cuốn họ vào hình thái phân mảnh mới do biến động chính trị: giữa ký ức và hiện tại, giữa mưu cầu cá nhân và lý tưởng tập thể, giữa cái bóng chính trị và tiếng nói bản ngã.
Hai miền ý thức hệ – hai miền số phận đàn bà
Trước sự kiện 1975, ở miền Bắc, phụ nữ được đặt trong dòng chảy của cách mạng xã hội chủ nghĩa: họ là “lực lượng sản xuất và chiến đấu”, tham gia vào lao động, vào chính trị, vào quân đội. Hình tượng người phụ nữ miền Bắc thời đó là “Anh hùng – Bất khuất – Trung hậu – Đảm đang” – tám chữ “vàng” do Hồ Chí Minh ban tặng, đại diện cho một thứ lý tưởng chính trị mang tính tập thể, gắn với tinh thần kháng chiến và xây dựng xã hội mới.
Ở miền Nam, phụ nữ sống trong một không gian đa tầng hơn: có người hoạt động cách mạng trong vùng giải phóng, nhưng cũng có nhiều người sống trong đô thị. Có những người có lối làm việc, học tập chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, bao gồm cả tôn giáo và mô hình gia đình kiểu tư sản truyền thống.
Nhiều người đàn bà thời đó đã phảng phất phong cách hiện đại, khai phóng mà đến tận thời nay không nhiều người có thể không theo kịp. Ta có thể nhìn thấy điều đó trong lời lẽ những bóng hồng của làng văn chương thời ấy như Nhã Ca, Trần Thị Ngh., Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, v.v. – những nhà văn nữ viết táo bạo về dục tính, cô đơn, thân phận, tình yêu, chiến tranh, và khát vọng tự do của phụ nữ.
Trong lời ca tiếng hát âm nhạc và nghệ thuật: Từ Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Thanh Lan… – họ không chỉ là ca sĩ, mà là biểu tượng của người phụ nữ có cảm xúc, có tư duy nghệ thuật, có lập trường riêng.
Hai miền, hai bầu không khí văn hóa, hai khung cảnh chính trị – xã hội. Giữa những người đàn bà Việt Nam sống dưới hai chế độ khác biệt ấy có thể có mức độ tự do cá nhân khác nhau, nhưng vẫn có điểm chung có thể quan sát được: tất cả họ đều phải chịu đựng chồng chéo những vết thương của chiến tranh và sự chia cắt.
Có giải phóng được cho phụ nữ?
Và rồi biến cố lịch sử 30/4 ập đến, hai miền Bắc – Nam thống nhất dưới chế độ xã hội chủ nghĩa sau khi binh đoàn mang tên “giải phóng” tiếp quản Sài Gòn. Nhưng liệu rằng lá cờ nhân danh giải phóng đó có thực sự giải phóng được phụ nữ miền Bắc khỏi tư duy chính trị tập thể sặc mùi phong kiến? Có thực sự đánh tan thành kiến về đức hy sinh và tinh thần đảm đang vẫn tròng lên đầu?
Và liệu những người đàn bà miền Nam vốn mang vác tinh thần tự do, hiện đại, phóng khoáng có được và có cần “giải phóng”? Hay rằng họ, sau cái ngày lịch sử ấy, chỉ phải chịu thêm những ràng buộc tinh vi bằng mô hình xã hội tập thể, bao cấp, cùng thứ hình tượng phụ nữ là phải “anh hùng”, “đảm đang” ?
Hai miền thống nhất về mặt chính trị, nhưng liệu rằng dân tộc này, nhất là phụ nữ, được “thống nhất” về đời sống, cơ hội và căn tính?
Nhìn lại lịch sử, phụ nữ miền Bắc sau đó vẫn phải lăn lộn trong một cuộc chiến mưu sinh khắc nghiệt của thời kỳ bao cấp chật vật, thiếu thốn về mọi mặt. Hầu hết phụ nữ vừa làm công – nông – viên chức, vừa đảm đương nội trợ, chăm con, lo tem phiếu, nên cuộc sống nặng nề và ít không gian cho bản thân. Cái bóng của hình tượng “hy sinh”, “chịu đựng”, “đảm đang” đã không giải phóng được phụ nữ miền Bắc chạm tới khát vọng cá nhân hay tình cảm riêng. Thậm chí, chúng còn trở thành những cái khuôn chật chội khiến người ta luôn phải tự o ép chính mình.
Phụ nữ miền Nam từ một đời sống đa dạng, hiện đại, nay bắt đầu phải tập thích nghi dần với một trật tự lịch sử khác, và có lẽ còn bị lịch sử tròng lên đầu những loại số phận khác.
Với phụ nữ từng làm việc cho chính quyền Sài Gòn, hoặc sống trong các đô thị cũ, nhiều người bị mất việc, bị phân loại lý lịch, tước đi những khung trời cơ hội tự chủ và tiến thân. Trong số họ còn có người phải khắc khoải chờ chồng “học tập cải tạo”, phải trắng tay khi toàn bộ tài sản bị quốc hữu hóa, phải một mình chật vật mưu sinh, gánh vác gia đình.
Họ từ tầng lớp trung lưu hoặc trí thức, bỗng rơi vào cảnh nghèo khó, tương lai trước mắt mịt mù. Nhiều người đã phải bỏ cả quê hương ở sau lưng với những nỗi sợ sệt bị đày đọa, trả thù; hoặc trở thành trụ cột gia đình khi chồng bị đi cải tạo, đã qua đời hoặc đang mất tích. Họ, không còn cách nào khác khi mà kết cục cuộc chiến đã ngã ngũ, nay chỉ biết oằn mình gánh lấy một cuộc đời đau đớn. Và rồi, cũng chính họ, trở thành thế hệ phụ nữ chịu đựng trong im lặng, chấp nhận một cuộc đời bị động: chờ đợi những quyền lợi được người ta cấp phát thay vì là những quyền được mặc nhiên sở đắc.
Từng đó năm trôi qua, thử một lần ngoảnh lại, có lẽ thấy phụ nữ Việt Nam với những cảm xúc thật lạ, những trang sử ngổn ngang, những thân phận bị thời cuộc phân mảnh….
***
Thay lời kết, bằng trọn vẹn tâm tư của một người đàn bà, tôi thành kính chúc tất cả phụ nữ Việt Nam – sau từng đó năm với những vết thương thời cuộc – sẽ sống trọn vẹn một đời tự do, với tất cả do mình chọn lựa. Không cần phải sống khuôn khổ với “tám chữ vàng” – “Anh hùng – Bất khuất – Trung hậu – Đảm đang” như một vị lãnh tụ nào đó từng trao ban.
Bởi lẽ, sống ra sao là cái quyền hiển nhiên phải có của mỗi con người, và cũng không ai – dù chức quyền nào – có đủ cái tư cách ấn định, trói buộc đàn bà bằng những từ ngữ mỹ đức. Không ai phải gồng mình để xứng đáng với những danh hiệu được ban tặng, mà chỉ cần sống đúng với chính mình.
Những mẫu hình phụ nữ tự do: bất khuất như Phạm Đoan Trang, cá tính như Trần Lệ Xuân, sắt son như vợ người tù Trịnh Bá Phương, v.v. với tôi đều đáng trân trọng như nhau. Và dù họ trong mắt ai được nhìn nhận với những thái độ chỉ trích, tiêu cực ra sao, thì với tôi, những thị phi, khen chê ấy cũng chính là những mảng màu bất phân ly của một cuộc đời tự do: chịu trách nhiệm đến cùng với những lựa chọn của mình, dám sống và trả giá vì nó.
Đó là tinh thần khai phóng, và cũng là tinh thần nữ quyền – là cái thứ sinh ra đã có – không cần đến ai ban phát hay tuyên truyền.

