Hiến pháp Việt Nam là một trong năm bản hiến pháp hiếm hoi trên thế giới còn hiến định quyền lãnh đạo của một đảng.
Cả năm bản hiến pháp này đều thuộc về các nước theo chủ nghĩa xã hội – Trung Quốc, Lào, Cuba, Triều Tiên, Việt Nam – và chịu sự lãnh đạo của đảng cộng sản, đảng lao động, hoặc đảng cách mạng nhân dân.
Các hiến pháp này tuy không có quy định đảng lãnh đạo phải là đảng chính trị duy nhất được tồn tại, nhưng cũng không có điều khoản cho phép (lẫn cấm) thành lập các đảng phái chính trị khác. [1]
Trong khi đó, trên thế giới có 125 bản hiến pháp đang lưu hành có quy định rõ ràng về quyền lập đảng chính trị. [2]
Không giống như các bản hiến pháp cộng sản hoặc hiến pháp của các chế độ một đảng, các bản hiến pháp này ngoài việc yêu cầu các đảng chính trị phải đáp ứng được một số tiêu chí dân chủ tối thiểu, không quy định về đảng nào được phép tồn tại, hay khuynh hướng tư tưởng của họ phải là gì, hoặc giả họ phải ủng hộ những chính sách nào.
Thời gian qua, Việt Nam đang thực hiện những cải cách căn bản và toàn diện, nhằm “đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu.” [3] Để đạt được mục tiêu đó, thiết tưởng, trước hết cần nhìn ra thế giới để biết tư duy hiến pháp của chúng ta đang ở đâu.
Một điều có thể thấy, đó là dù Hiến pháp 2013 sửa đổi năm 2025 đưa ra những tuyên bố rất đanh thép về dân chủ, công bằng như rằng: “nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,” thế nhưng trên thực tế, đây vẫn là bản hiến pháp của một chế độ độc đảng chứ không phải là hiến pháp của một nền dân chủ. [4]
Để làm rõ hơn nhận định này, ta sẽ cùng so sánh quy định về đảng chính trị giữa các bản hiến pháp khác nhau.
Vai trò đặc biệt của các đảng chính trị trong một nền dân chủ
Về cơ bản, các đảng chính trị là tập hợp những công dân liên kết lại với nhau bởi các nguyên tắc hoặc chính sách chung nhất định. Họ hợp tác với nhau, cùng nỗ lực để giành được các chức vụ dân cử nhằm đạt được những kết quả thể hiện đúng tinh thần của các nguyên tắc hoặc chính sách đó.
Các đảng chính trị hình thành và suy tàn tùy theo phản ứng của dư luận. Và, ngay cả khi bị quản lý chặt chẽ, các đảng chính trị trong các nền dân chủ vẫn không phải thuộc về các thiết chế của nhà nước.
Do đó, có thể coi các đảng chính trị là những thiết chế trung gian nằm giữa xã hội dân sự và nhà nước. [5]
Một mặt, công dân thành lập đảng phái chính trị để phản ánh lợi ích của họ và huy động người dân tham gia chính trị nhằm thay đổi chính sách và pháp luật. Ở khía cạnh này, các đảng chính trị là những thiết chế của xã hội dân sự, giống như các công đoàn hay các nhóm vận động.
Mặt khác, mục đích đặc thù của một đảng chính trị là bầu cử các quan chức để thực thi quyền lực chính trị trong các cơ quan công quyền theo luật công. Ở khía cạnh này, các đảng chính trị có những vai trò và chức năng công cộng quan trọng đến mức cần phải có quy định điều chỉnh hoạt động của chúng.
Đảng chính trị, như vậy, rất khác với các hội đoàn xã hội khác. Nó không giống như một câu lạc bộ quần vợt có thể hoạt động mà không cần quy định chặt chẽ.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để cân bằng giữa bản chất công và tư của các đảng chính trị.
Liệu rằng, hiến pháp nên chăng chỉ cần tôn trọng quyền của các đảng chính trị với tư cách là những tổ chức tư nhân, bảo đảm quyền tự do hoạt động của họ trong hệ thống chính trị thông qua các quy định hiến định chung về tự do ngôn luận và tự do lập hội?
Hay rằng, hiến pháp nên xem các đảng chính trị là những thiết chế công cộng thiết yếu và có quyền lực đến mức công chúng có lợi ích chính đáng trong việc giám sát hoạt động của họ, và vì vậy hiến pháp cần có quy định để điều chỉnh phù hợp?
Đáp án cho vấn đề vừa nêu không dễ bàn, nhưng ở nhiều quốc gia trong thế kỷ qua, dễ dàng nhận thấy xu hướng tăng cường các quy định hiến pháp đối với hoạt động của các đảng chính trị. [6]
Hiến pháp dân chủ khẳng định vai trò của các đảng chính trị
Thông thường, khi một bản hiến pháp muốn công nhận các đảng chính trị, cách đơn giản nhất là đề cập đến sự tồn tại của chúng.
Hiện nay, các thuật ngữ “đảng chính trị” hoặc “các đảng chính trị” xuất hiện trong ít nhất 125 bản hiến pháp đang có hiệu lực. [7] Một số bản hiến pháp cũng ghi nhận vai trò và chức năng của các đảng chính trị trong các nền dân chủ.
Đơn cử, Điều 21 của Luật Cơ bản Đức (1949) là một ví dụ cổ điển trong việc xác định vai trò và chức năng của các chính đảng. Điều này nêu rõ rằng: “Các đảng chính trị sẽ tham gia vào việc hình thành ý chí chính trị của nhân dân.” [8]
Một cách diễn đạt tương tự về “ý chí chính trị” cũng có thể được tìm thấy trong Hiến pháp Romania (1991). Điều 8 của hiến pháp này quy định rằng: “Các đảng chính trị được thành lập và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Chúng góp phần vào việc xác định và thể hiện ý chí chính trị của công dân, đồng thời tôn trọng chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, pháp quyền và các nguyên tắc dân chủ.”
Hay tại Điều 4 của Hiến pháp Pháp (1958) có nêu ra một quy định phổ biến về vai trò của chính đảng, rằng: “Các đảng và nhóm chính trị góp phần vào việc thực thi quyền bầu cử.”
Gọi là phổ biến, vì không chỉ trong hiến pháp của Pháp, cách diễn đạt này đã được áp dụng ở nhiều quốc gia nói tiếng Pháp ở châu Phi, như ở Benin (1990, Điều 5), Burundi (2018, Điều 79), Comoros (2018, Điều 35), Cộng hòa Dân chủ Congo (2005, Điều 6), Côte d’Ivoire (2000, Điều 14), Niger (2010, Điều 9) và Senegal (2001, Điều 4).
Cả hai cách diễn đạt – “hình thành ý chí chính trị” và “thực thi quyền bầu cử” – đều thể hiện ý tưởng rằng các đảng chính trị đảm nhận một vai trò thể chế đặc biệt. Chúng là cơ chế mà thông qua đó các quan điểm chính trị của từng công dân được xác định, củng cố và hình thành, và rồi thể hiện trong các thiết chế chính trị thông qua các tiến trình bầu cử.
Bên cạnh đó, cả hai cách diễn đạt trên đều khẳng định rằng nền dân chủ đại diện không hề vận hành một cách máy móc. Trái lại, nó đòi hỏi một không gian chính trị nơi công dân có thể khởi xướng, phối hợp và hành động, thực hiện những công việc như xây dựng các câu chuyện, hình thành ý tưởng và bản sắc, cũng như việc huy động và củng cố sự ủng hộ chính trị. Đảng chính trị là cơ chế giúp công dân tham gia vào tất cả các quá trình đó.
Những quy định này cũng giả định rằng các đảng chính trị chiếm một vị trí trung gian giữa nhân dân và nhà nước, nhưng đồng thời tách biệt với cả hai.
Nói một cách khác, chúng là công cụ của nhân dân, thay mặt nhân dân điều phối việc giám sát các cơ quan dân cử và các chức năng của nhà nước.
Chưa hết, những quy định này còn giả định rằng các đảng chính trị là những thiết chế tồn tại vì các mục tiêu dân chủ và ngầm bị giới hạn trong khuôn khổ của các mục tiêu đó.
Hiến pháp dân chủ nghiêm cấm chế độ một đảng
Một số chế độ chuyên chế đã tuyên bố rõ ràng rằng họ là nhà nước một đảng.
Ví dụ, Hiến pháp Liên Xô năm 1936 quy định rằng đảng cộng sản là “đội tiên phong của giai cấp lao động” và là “hạt nhân lãnh đạo của tất cả các tổ chức của giai cấp lao động, cả trong khu vực công và nhà nước.”
Chỉ đảng cộng sản và các công đoàn cùng các tổ chức trực thuộc đảng cộng sản mới có quyền đề cử ứng viên cho các chức vụ.
Các nhà nước một đảng không chỉ giới hạn trong khối Liên Xô cũ.
Việc một đảng duy nhất chính thức được hiến định vị thế độc quyền về quyền lực cũng được tìm thấy ở nhiều chế độ và nhiều bản hiến pháp khác nhau, trên khắp các hệ tư tưởng.
Ví dụ, Điều 8 Hiến pháp Syria năm 1973 tuyên bố rằng: “đảng lãnh đạo xã hội và nhà nước là Đảng Phục hưng Xã hội Ả Rập.”
Kenya chính thức là một nhà nước một đảng từ năm 1982 đến năm 1991, mặc dù trên thực tế, nước này đã vận hành như một nhà nước một đảng từ giữa những năm 1960.
Nhưng chưa hết, bên cạnh các chế độ một đảng được công nhận chính thức, cũng có những chế độ tương tự được thiết lập một cách phi chính thức, ẩn sau lớp vỏ của nền dân chủ.
Tại đó, các đảng khác cũng có thể được phép tồn tại, thậm chí được khuyến khích hoạt động, miễn là họ phục vụ cho chế độ. Việc phục vụ có thể bằng hình thức hợp tác với đảng cầm quyền, hoặc chỉ thể hiện sự đối lập mang tính hình thức, tạo ra vẻ ngoài đa nguyên nhưng các động thái cạnh tranh chính trị không thực chất.
Trong các chế độ đó, đảng cầm quyền dùng nhiều hình thức cưỡng ép và tham nhũng để củng cố vị thế quyền lực và duy trì các đảng đối lập trong tình trạng lệ thuộc.
Tại Paraguay, dưới chế độ của tổng thống Alfredo Stroessner (1954–1989), đảng đối lập Tự do Triệt để (Radical Liberal Party) được phép tham gia tranh cử và giành được một số ghế trong quốc hội, Đảng Màu (Colorado Party) – đảng cầm quyền – phải nỗ lực gìn giữ vị thế bằng nhiều cách khác nhau, bao gồm cả việc gian lận phiếu bầu, bắt giữ và quấy nhiễu các nhà báo, cũng như tra tấn, sát hại và trục xuất các nhân vật đối lập.
Đảng Màu còn ra sức chính trị hóa các thiết chế nhà nước, theo đó chỉ có thành viên của đảng này mới được tuyển dụng vào quân đội, bộ máy hành chính, hệ thống tòa án, cũng như các trường học và đại học công lập. [9]
Nhiều năm qua, các bản hiến pháp dân chủ đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để ngăn chặn nguy cơ của chế độ một đảng.
Tại Liberia, nơi Đảng Whig Thực chất (True Whig Party) đã thiết lập một nhà nước một đảng phi chính thức trong hơn 100 năm, thế nhưng Hiến pháp 1986 quy định tại Điều 77 rằng: “Các đạo luật, quy định, sắc lệnh hoặc biện pháp có thể dẫn đến việc hình thành một nhà nước một đảng sẽ bị tuyên bố là vi hiến.”
Tại Cộng hòa Dân chủ Congo, nhằm phản ứng lại chế độ một đảng của Mobutu Sese Seko, Điều 7 Hiến pháp năm 2005 cấm việc thành lập nhà nước một đảng và tuyên bố hành vi đó là tội phản quốc nghiêm trọng.
Điều 11 Hiến pháp Bulgaria năm 1991 quy định rằng: “Hoạt động chính trị […] phải được xây dựng trên nguyên tắc đa nguyên chính trị” và “không một đảng chính trị hay hệ tư tưởng nào được tuyên bố hoặc công nhận là đảng hoặc hệ tư tưởng của Nhà nước.” Nói cách khác, hiến pháp khẳng định tính trung lập của nhà nước đối với các đảng chính trị.
Tại Moldova, Điều 2 Hiến pháp năm 1994 tìm cách duy trì tính phi đảng phái của nhà nước và tách biệt nhà nước và đảng chính trị bằng cách tuyên bố rằng: “Không cá nhân, nhóm người, tầng lớp xã hội, đảng chính trị hay tổ chức công nào có thể thực thi quyền lực nhà nước nhân danh chính họ.”
Hiến pháp dân chủ đảm bảo chế độ đa đảng
Không chỉ đơn thuần cấm các chế độ một đảng, các bản hiến pháp dân chủ còn có thể thể hiện cam kết tích cực đối với nền dân chủ đa đảng.
Tại Nam Phi, nguyên tắc về “một hệ thống chính phủ dân chủ đa đảng” được đặt ngay ở phần đầu của Hiến pháp (Điều 1). Nguyên tắc này khó sửa đổi hơn các phần khác, và được xem là nền tảng cho toàn bộ ý nghĩa của bản hiến pháp nước này.
Tại Kenya, Điều 4 Hiến pháp tuyên bố rằng: “Cộng hòa Kenya là một nhà nước dân chủ đa đảng.”
Croatia cũng áp dụng cách tiếp cận tương tự khi tuyên bố rằng “hệ thống dân chủ đa đảng” là một trong “những giá trị cao nhất của trật tự hiến định của Cộng hòa Croatia và là cơ sở để diễn giải Hiến pháp” (Điều 3).
Những quy định như vậy đặc biệt hữu ích trong bối cảnh nền dân chủ đa đảng được tái lập sau một giai đoạn cai trị bởi chế độ một đảng. Như đã đề cập ở trên, Kenya từng là một nhà nước một đảng (1982–1991), trong đó việc độc quyền quyền lực của một đảng được công nhận chính thức.
Trong những trường hợp như vậy, việc chỉ đơn thuần bãi bỏ các điều khoản thiết lập nhà nước một đảng thường là chưa đủ.
Thay vào đó, một tuyên bố trong hiến pháp thể hiện cam kết rõ ràng đối với chế độ đa đảng là một lựa chọn hợp lý và có ý nghĩa khẳng định mạnh mẽ hơn.
Nội dung trên được Hoàng Mai tổng hợp và biên dịch từ: Choudhry, S., & Bulmer, W. E. (2025). Political Parties: Constitutional Roles, Recognition, Rights and Regulations. Recognition, Rights and Regulations (September 04, 2025). Xem tại đây.
Đọc thêm:


Chú thích
1. Xem các điều khoản liên quan của năm hiến pháp đó tại Constitute Project, https://constituteproject.org/constitutions?key=partprf, truy cập lần cuối ngày 11 tháng 11 năm 2025.
2. Xem các điều khoản liên quan của 125 hiến pháp đó tại Constitute Project, https://constituteproject.org/constitutions?lang=en&key=partrght&status=in_force, truy cập lần cuối ngày 11 tháng 11 năm 2025.
3. Tô Lâm, “Rạng rỡ Việt Nam,” ngày 2 tháng 2 năm 2025, https://tuoitre.vn/rang-ro-viet-nam-20250202100450475.htm, truy cập lần cuối ngày 11 tháng 11 năm 2025.
4. Hiến pháp Việt Nam 1992, sửa đổi năm 2025, https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2025/7/52-vbhn-vpqh.pdf, truy cập lần cuối ngày 11 tháng 11 năm 2025.
5. Müller, J.-W., Democracy Rules (New York: Farrar, Straus and Giroux, 2021).
6. Choudhry, S., ‘Constitutional design and political parties’, in M. Khosla and V. C. Jackson (eds), Redefining Comparative Constitutional Law: Essays for Mark Tushnet (Oxford: Oxford University Press, 2024), <https://doi.org/10.1093/9780191996344.003.0021>.
7. Xem ghi chú số 2 ở trên.
8. Tham khảo nguyên văn các điều khoản hiến pháp được nêu trong bài viết tại https://constituteproject.org/.
9. Nickson, A., ‘The legacies of the Stroessner dictatorship in Paraguay’, Current History, 124/859 (2025), pp. 68–73, <https://doi.org/10.1525/curh.2025.124.859.68>.

