Luat Khoa Logo White
GÓI TRẢ PHÍ | Tặng báo | Newsletter | Đăng nhập
  • Thời sự
  • Quan điểm
  • Pháp luật
  • Chính trị
  • Lịch sử
    • Việt Nam Cộng hòa
  • Quốc tế
  • Dự án 1975
    • Quỹ Nghiên cứu Việt Nam Cộng hòa
  • English
  • Video
    • Dành cho thành viên
  • Thời sự
  • Quan điểm
  • Pháp luật
  • Chính trị
  • Lịch sử
    • Việt Nam Cộng hòa
  • Quốc tế
  • Dự án 1975
    • Quỹ Nghiên cứu Việt Nam Cộng hòa
  • English
  • Video
    • Dành cho thành viên
GÓI TRẢ PHÍ | Đăng nhập
GÓI TRẢ PHÍ
Luat Khoa Logo White
Person
  • Thời sự
  • Quan điểm
  • Pháp luật
  • Chính trị
  • Lịch sử
    • Việt Nam Cộng hòa
  • Quốc tế
  • Dự án 1975
    • Quỹ Nghiên cứu Việt Nam Cộng hòa
  • English
  • Video
    • Dành cho thành viên
Khách
  • Ủng hộ Luật Khoa
  • Quản lý tài khoản
  • Cập nhật Newsletter
  • Cộng tác viết bài
  • Liên lạc với Luật Khoa
Đăng nhập/ Đăng ký

Đóng

ỦNG HỘ LUẬT KHOA

Chuyên mục

  • Thời sự
  • Quan điểm
  • Pháp luật
  • Chính trị
  • Việt Nam Cộng hòa
  • Quốc tế
  • Lịch sử
  • Tư tưởng
  • Diễn đàn
  • Đọc sách cùng Đoan Trang
  • Nhân quyền
  • Tôn giáo
    • Bản tin tôn giáo
  • Giáo dục
  • Tin Luật Khoa
  • Video dành cho thành viên

Dự án khác

1975 Luat Khoa Luật Khoa Video The Vietnamese Báo Tàng

LUẬT KHOA VÀ BẠN ĐỌC

Nhận thư tin hàng tuần, tham gia góp ý bài vở, và theo dõi hành trình làm báo độc lập của Luật Khoa

ĐĂNG KÝ NHẬN THƯ

Hoạt động khác

Chương trình tặng báo Membership Ủng hộ Dự án 1975
Về Luật Khoa Quảng cáo cùng Luật Khoa Gửi bài Liên lạc với Luật Khoa

Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở

Hải SaHải Sa
01/11/2025
Ảnh minh họa: Thiên Tân/Luật Khoa.

Ảnh minh họa: Thiên Tân/Luật Khoa.

Bài viết này nằm trong số báo đặc biệt “70 năm Việt Nam Cộng hòa – Chân dung và Di sản” được phát hành ngày 23/10/2025, nay được đăng tải nhân dịp kỷ niệm 58 năm ngày Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên thệ nhậm chức lần thứ nhất (31/10/1967) và thành lập chính phủ, khai sinh nền Đệ nhị Cộng hòa (1/11/1967).

Năm mươi tám năm đã trôi qua, chóng vánh và lạnh lùng trên những trang giấy ố vàng của một quyển sách đã ít nhiều rệu rã, phủ đầy bụi cũ thời gian. Tại đó, vẫn còn in những dòng mực dẫu đã nhạt, nhưng chưa từng nhòa:

“Không có một Hiến pháp nào toàn thiện toàn mỹ mà cũng không có một nền dân chủ nào toàn thiện toàn mỹ dù chỉ là trên lý thuyết.

Bài viết cùng chuyên mục

Vì sao chính quyền không cho phép báo chí có mặt xuyên suốt đại hội đảng?

Đại hội Đảng diễn ra, nhưng bạn không biết nên nhìn vào đâu để hiểu?

Hệ giá trị Việt Nam phù hợp với nhân quyền phổ quát

Nhưng Hiến pháp mà chúng ta ban hành hôm nay là một bước đầu tiên cần thiết cho Quốc gia để xây dựng một nền dân chủ. Và như tôi thường trình bày với đồng bào, chỉ có dân chủ mới có tạo dựng được đoàn kết quốc gia thực sự, có dân chủ mới đòi hỏi được sự tham gia tích cực của mọi tầng lớp nhân dân để mở đường cho sự phát triển toàn diện của dân tộc, có dân chủ mới tập trung được mọi sinh lực quốc gia để có đủ sức mạnh sớm chiến thắng xâm lăng, thực hiện được mọi chương trình phục hưng xứ sở và cải tiến xã hội.” [1]

Đó là những lời tuyên bố, hay nói cách khác, là những lời hứa hẹn cho tinh thần dân chủ cùng khát vọng thực thi dân chủ của một bản hiến pháp, nhân dịp nó vừa được ban hành vào năm 1967. Nếu không tính các bản hiến ước có tính chất tạm thời trong thời kỳ quân quản (1963-1967), đó là bản hiến pháp thứ hai của chính thể Việt Nam Cộng hòa, Hiến pháp 1967. Từ bản hiến pháp này, nền Đệ nhị Cộng hòa (1967 – 1975) đã được khai sinh.

Tác giả của thông điệp căng tràn tinh thần dân chủ trên, không ai khác, chính là Nguyễn Văn Thiệu, lúc bấy giờ đang là trung tướng, chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, tương đương vị trí nguyên thủ. Ông đã soạn những dòng này trong một lời hiệu triệu gửi đến toàn thể quốc dân đồng bào vào ngày mà hiến pháp mới bắt đầu có hiệu lực, ngày 1/4/1967.

Như ta đọc thấy, lời hiệu triệu đã khẳng định giá trị của dân chủ như là nền tảng cho hạnh phúc của nhân dân, cũng như cho sức mạnh và sự tiến bộ của đất nước. Xây dựng dân chủ, vì vậy trở thành nhiệm vụ khẩn thiết trước mắt của chính quyền, và bản hiến pháp được ban bố chính là viên gạch nền trên bước đường hoàn thành nhiệm vụ ấy.

Vỏn vẹn tám năm sau ngày ban bố Hiến pháp 1967, chính thể Việt Nam Cộng hòa đã chấm dứt vai trò lịch sử của nó. Ta chưa có cơ hội được chứng kiến, rằng nếu đi đến cùng, bản hiến pháp này sẽ đem lại thành quả gì trên chặng đường dân chủ hóa.

Một nhà nước dân chủ, trước và trên hết, phải là nhà nước tôn trọng nhân quyền. Không ngẫu nhiên khi bản hiến pháp kinh điển của Hoa Kỳ đã mở đầu bằng những tuyên ngôn bất hủ về quyền con người.

Từ cách hiểu đó, bài viết này muốn điểm lại và đánh giá những điều khoản nói về quyền con người mà bản Hiến pháp 1967 đã thừa nhận và chế định, nhưng chưa kịp hoàn thành sứ mệnh của mình. 

Những ước mơ và những lời hứa về dân chủ hay nhân quyền chưa được thực hiện đầy đủ theo lời hiệu triệu mà Nguyễn Văn Thiệu gửi đi, cũng như theo những gì bản Hiến pháp 1967 đã quy định, có thể xem là những đề án còn dang dở mà hậu thế phải tiếp quản, dù có muốn hay không. 

Nhìn nhận cả những món nợ của ông cha với hậu nhân, âu có lẽ, cũng là một cách để người nay nghiêm túc đón nhận một di sản.

Nguyễn Văn Thiệu tuyên thệ nhậm chức tổng thống Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa. Phía sau ông là Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên. Ảnh: U.S. Information Agency 67-0480.

Bản khế ước nhân quyền và những hạt mầm dân chủ 

Trong vỏn vẹn 20 năm tồn tại, Việt Nam Cộng hòa đã có cho mình hai bản hiến pháp, tương ứng với hai nền cộng hòa được thiết lập. Bản hiến pháp đầu tiên của chính thể này do Ngô Đình Diệm ký lệnh ban bố năm 1956, mở ra nền Đệ nhất Cộng hòa. Mười một năm sau, nền Đệ nhị Cộng hòa được khai sinh khi Nguyễn Văn Thiệu ký lệnh ban hành bản hiến pháp thứ hai.

Bản Hiến pháp 1967, lẽ hiển nhiên không thể được xem là bản hiến pháp dân chủ đầu tiên của chính thể Việt Nam Cộng hòa nói riêng, chứ chưa nói đến của lịch sử Việt Nam nói chung. Bởi trước nó, đã từng tồn tại Hiến pháp 1956 hay sớm hơn nữa, còn có bản Hiến pháp 1946 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. [2][3]

Thế nhưng, có ý kiến đã khẳng định bằng những chứng lý thuyết phục rằng Hiến pháp 1967 là bản hiến pháp dân chủ nhất từng tồn tại và được áp dụng tại Việt Nam, kể cả xét trên phương diện lý thuyết của nội dung soạn thảo, hay phương diện hiệu lực thực tế khi áp dụng. [4]

Xét riêng trên phương diện tôn trọng và công nhận quyền con người, bản Hiến pháp 1967 đã có những điểm tiến bộ, cải thiện đáng kể so với hai bản hiến pháp tiền nhiệm vừa nêu trên.

Điểm tiến bộ đầu tiên nằm ở chỗ, những quyền con người được bản hiến pháp này ghi nhận đã theo sát đáng kể các quyền được khẳng định trong Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân quyền (UDHR). [5]

Nếu lấy UDHR làm cột mốc so sánh, có thể thấy, ít nhất 28 điều quy định về quyền con người trong Hiến pháp 1967 tiếp cận và bám sát tương ứng với 26 điều trong bản tuyên ngôn năm 1948 của Liên Hợp Quốc. Chưa kể, Hiến pháp 1967 còn cho thấy có sự tiếp nhận, cập nhật thêm nhiều quy định trong Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) năm 1966. [6]

Cụ thể, Hiến pháp 1967 đã bao quát gần như toàn bộ các nhóm quyền cơ bản được quy định trong UDHR, từ nhóm quyền dân sự – chính trị (ở các Điều 6, 7, 8, 9, 12, 13, 14, 19), đến nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ở các Điều 10, 15, 16, 17, 18).

Bản hiến pháp này còn vượt trội so với hai bản Hiến pháp 1946 và 1956 ở điểm có quy định rõ ràng về các lĩnh vực như an sinh xã hội và y tế công cộng (Điều 18), quyền làm việc, thù lao xứng đáng (Điều 15) và quyền công đoàn, đình công (Điều 16). 

Thêm vào đó, Hiến pháp 1967 còn có các quy định chi tiết về cơ chế bảo vệ quyền con người bằng cách ấn định tính độc lập của hoạt động tư pháp và xây dựng các nguyên tắc nhân quyền trong quy trình tố tụng. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có một bản hiến pháp đã thể chế hóa cụ thể nội dung này. 

Đơn cử có thể thấy, ở Điều 7, bản hiến pháp này đã quy định về các quyền được suy đoán vô tội, quyền biện hộ ở mọi giai đoạn, cấm hành vi tra tấn, và quyền đòi bồi thường khi bị bắt giữ oan ức. Đây là những nội dung được phát triển, chi tiết hóa từ tinh thần các Điều 5, 10 và 11 trong UDHR.

Một điểm sáng khác là Hiến pháp 1967 không chỉ quy định giáo dục cơ bản được miễn phí và bắt buộc, mà – cũng là lần đầu tiên trong một bản hiến pháp tại Việt Nam – còn xác định văn hóa và giáo dục là quốc sách, và tuyên bố về cơ chế tự trị của giáo dục đại học (ở các Điều 10, 11). Ngoài ra, bản hiến pháp còn có thêm nội dung khuyến khích nghiên cứu khoa học và sáng tạo văn học, nghệ thuật, bám sát các điều 26 và 27 trong UDHR.

Chưa hết, bản hiến pháp thứ hai của Việt Nam Cộng hòa còn tạo nên một điểm nhấn nổi bật mà kể cả nội dung của UDHR hay các bản hiến pháp sau này của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa chưa từng đề cập, nằm ở Điều 24. Cụ thể, Điều 24 quy định: 

“1. Quốc gia công nhận sự hiện hữu của các sắc tộc thiểu số trong cộng đồng Việt Nam.

2. Quốc gia tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào thiểu số. Các Tòa án phong tục phải được thiết lập để xét xữ (sic) một số các vụ án phong tục giữa các đồng bào thiểu số.

3. Một đạo luật sẽ qui định những quyền lợi đặc biệt để nâng đỡ đồng bào thiểu số.” [7]

Theo đó, bản hiến pháp đã thể hiện sự tôn trọng đặc thù về đời sống, văn hóa, phong tục của các tộc người thiểu số, và chủ trương phải xây dựng cơ chế riêng về pháp lý để bám sát các đặc điểm tộc người cụ thể. Đây là nội dung mang tính tiến bộ của bản hiến pháp này, có lẽ có kế thừa từ Điều 27 trong ICCPR nhưng cho thấy đã có sự cải tiến. Gọi đây là một điểm sáng tiến bộ, bởi mãi đến tận năm 1989, thế giới mới có Công ước ILO 169 chính thức thể chế hóa theo hướng ghi nhận đầy đủ sự tôn trọng quyền và cơ chế hành xử phù hợp đối với các tộc người thiểu số. [8]

Nội dung của Hiến pháp 1967, như vậy đã cho thấy tinh thần cập nhật, kế thừa cao độ những tư duy pháp lý tiến bộ trên thế giới. Đã làm được đến thế, thì những nhà lập pháp năm đó không thể không làm thao tác nhìn nhận những ưu, nhược của các bản hiến pháp đi trước, để học hỏi và vượt qua.

Ví như, ở Hiến pháp 1946, dù đã rất tiến bộ so với các bản hiến pháp sau này của nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thế nhưng vẫn khó tránh khỏi tính chất sơ khai, đơn giản. 

Cụ thể, các điều khoản chỉ dừng lại ở khung nguyên tắc chung, thiếu chi tiết, và do đó cũng bỏ sót nhiều nội dung, như: không đề cập quyền được bồi thường khi bị bắt giữ oan ức hoặc xét xử sai, như Điều 9 UDHR quy định. Đó có lẽ là một phần căn nguyên khiến những vụ oan sai trong Cải cách ruộng đất 1953 – 1956 không hề có cơ chế pháp lý cho việc bồi thường, bù đắp. Bản hiến pháp này cũng chưa đề cập các quyền được đảm bảo an sinh xã hội và lợi ích xứng đáng cho người lao động mà UDHR trình bày trong các điều từ 22 đến 25. 

Tương tự, bản Hiến pháp 1956 của Việt Nam Cộng hòa cũng chứa đựng hạn chế ở hai khía cạnh này. Các quyền an sinh xã hội và cơ chế bảo vệ nhân quyền tuy có được đề cập đến nhưng chưa thể chế hóa chi tiết. 

Nội dung so sánhHiến pháp 1946 (VNDCCH)Hiến pháp 1956 (VNCH)Hiến pháp 1967 (VNCH)
Số điều khoản có liên hệ trực tiếp đến nhân quyền14 điều (trên tổng 70 điều).24 điều (trên tổng 98 điều).28 điều (trên tổng 119 điều).
Phạm vi các quyền nhân thân và chính trịCó, nhưng giới hạn (tự do ngôn luận, tín ngưỡng, bình đẳng trước pháp luật).Rộng, tương đương UDHR (ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, cư trú, hôn nhân, tài sản).Chi tiết, mở rộng hơn Hiến pháp 1956 (thêm quyền kháng cáo, cấm tra tấn, bảo vệ tư pháp độc lập, tự do học thuật, tự do nghiệp đoàn).
Phạm vi quyền kinh tế – xã hộiHầu như chưa thiết lập, chỉ nhắc quyền lao động, giáo dục sơ đẳng.Có đề cập nhưng giới hạn (quyền tư hữu, giáo dục, lao động, phúc lợi).Kế thừa và phát triển hơn UDHR (quyền lao động, an sinh, tự do kinh doanh, quyền tư hữu được bảo vệ mạnh mẽ).
Nguyên tắc bình đẳng và nhân phẩmCó đề cập, nhưng chưa có khái niệm “nhân phẩm” (dignity) như UDHR.Có nêu rõ “mọi người sinh ra đều bình đẳng trước pháp luật”, gần với Điều 1 và 2 UDHR nhưng còn chung chung.Có nhấn mạnh nhân phẩm, nhân vị (theo tinh thần Thiên Chúa giáo – nhân bản), tương tự UDHR. Có chi tiết hóa phương án thực thi và bảo vệ.
Mức độ thể chế hóa và bảo vệ quyền con ngườiQuyền công dân gắn chặt với nghĩa vụ đối với nhà nước, không có cơ chế bảo vệ độc lập.Có hệ thống tòa án hiến pháp, cơ chế lập pháp – hành pháp tách biệt, tư pháp đã có cơ chế bảo vệ nhân quyền.Hoàn thiện hơn 1956, đã có cơ chế tư pháp độc lập, Quốc hội hai viện kiểm soát quyền lực, mở rộng cơ chế tố tụng bảo vệ quyền.
So sánh tổng quan các điều khoản về nhân quyền trong ba bản hiến pháp: Hiến pháp 1946 (của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), Hiến pháp 1956 và 1967 (của Việt Nam Cộng hòa) với UDHR. Nguồn: Hải Sa tổng hợp và so sánh.

“Vớt hương dưới đất” – di sản từ những gì dang dở

Bản Hiến pháp 1967 tất nhiên vẫn tồn tại nhiều thiếu sót và hạn chế, đến từ cả hạn chế khách quan của thời cuộc lẫn hạn chế chủ quan của đội ngũ lập pháp. 

Đơn cử, một hạn chế chung của cả Hiến pháp 1956 và 1967 nằm ở Điều 4, quy định một cách cứng nhắc về lập trường chống cộng. Điều này trở thành một hòn đá tảng chắn ngang lối vào của các điều khoản về tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, hay tự do đảng phái, lập hội.

Bầu cử ở Sài Gòn năm 1967.

Quy định về chế độ kiểm duyệt đối với điện ảnh và kịch trường cũng là một điểm hạn chế lớn của bản hiến pháp này, và trở thành điểm nghẽn cho khung nguyên tắc về quyền tự do biểu đạt.

Ngoài ra, các quyền tự do của người dân trong Hiến pháp 1967 thường đi kèm với những giới hạn, điều kiện, như “trong phạm vi luật định” hay “miễn là không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng, thuần phong mỹ tục”. Những ngôn từ hạn chế ấy là bước đệm cho những bộ luật, điều luật khống chế quyền tự do của công dân, hoặc là cửa ngõ của sự diễn giải có lợi cho những người thực thi pháp luật.

Nhưng nhìn lại những hạn chế này không phải là để trách cứ hay lên án. Bởi, Hiến pháp 1967 đã chìm sâu vào dĩ vãng theo thành trì đã sụp đổ của chính thể Việt Nam Cộng hòa, vậy thì những lời chê bai, oán trách cũng trở thành vô nghĩa, hay cùng lắm thì “mua vui cũng được một vài trống canh.” 

Di sản của tiền nhân không chỉ là công trạng hay thành tựu, mà sẽ còn là những gì thiếu sót, dang dở. Hiến pháp 1967, như ta vừa điểm qua, có cả phần đáng học, có cả phần đáng sửa. Học và sửa, có lẽ mới là điều thiết thực mà hậu thế nên làm để tận dụng và khai thác kinh nghiệm của người xưa.

***

Bên trên, ta chỉ mới nhìn bản hiến pháp trên phương diện câu từ, ngôn ngữ làm luật, còn thực tế thì sao? Nhìn lại bao nhiêu năm đã qua kể từ ngày bản hiến pháp ấy ra mắt, cả khi còn hiện hữu lẫn khi đã khuất bóng, liệu có còn gì đọng lại, có còn dư âm nào?

Hiện thực lịch sử cũng đã cho thấy, Hiến pháp 1967 và bầu phong hóa chính trị đi kèm với nó đã ít nhiều được thừa nhận lẫn tiếp nhận. Từ công phu khảo cứu một lượng lớn các bản hồi ký, tự truyện, tác giả Tuan Hoang trong một bài viết in trong cuốn “The Republic of Vietnam 1955 – 1975: Vietnamese Perspectives in Nation Building” cũng nêu nhận định về sự khởi sắc của đời sống chính trị miền Nam thời Đệ nhị Cộng hòa, theo hướng tự do, dân chủ và nhiều hứa hẹn hơn. Tác giả viết: 

“So với các quan điểm về Đệ Nhất Cộng hòa, các hồi ký tiếng Việt tỏ ra thống nhất hơn khi nhìn nhận chính trị dưới thời Đệ Nhị Cộng hòa một cách chủ yếu là tích cực […] giai đoạn này thể hiện sự tiến bộ về dân chủ và mở ra hy vọng về một nền văn hóa chính trị đáng mong đợi trong giới người Việt chống cộng.” [9]

Không gian dân sự tự do và tôn trọng quyền con người của xã hội miền Nam trước 1975 cũng có thể được phản ánh qua các số liệu về báo chí, xuất bản. Theo thống kê của Thư viện Khoa học Tổng hợp, trong giai đoạn 1954 – 1975, ở miền Nam xuất hiện tổng cộng 295 tờ nhật báo tiếng Việt và khoảng 1.500 tờ tuần san, bán tuần san hoặc nguyệt san. [10]

Một nghiên cứu của Đại học Công nghệ Nam Dương còn cho biết tại miền Nam giai đoạn này có tới khoảng 1.500 nhà in. Nghiên cứu này cho biết thêm, riêng trong mấy tháng đầu năm 1975, giai đoạn mà quốc lực kéo theo không khí văn hóa của miền Nam đã bước vào quãng thoái trào, cả nước khi ấy vẫn xuất bản được 572 đầu sách với tổng cộng hơn 5,5 triệu bản in. [11]

Hội trường Diên Hồng là trụ sở Thượng viện Việt Nam Cộng hòa đặt
ở Sài Gòn. Nay là Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Lt. Col. R. Wayne Adelsperger.

Các con số về hoạt động xuất bản báo chí, sách vở không chỉ cho thấy mức độ tiến bộ về văn hóa, giáo dục, mà còn góp phần phản ánh tính cởi mở và sôi động của một không gian chính trị tôn trọng tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, và khích lệ hoạt động sáng tác văn học nghệ thuật – những lĩnh vực đã được hiến định trong Hiến pháp 1967.

Tác giả Trùng Dương, nguyên chủ bút tờ nhật báo Sóng Thần ở miền Nam trước 1975, trong bài viết “Văn học miền Nam: Từ bức tử tới phục sinh” cũng từng nhận định: 

“Mặc dù chiến tranh, khói lửa, chết chóc, chia lìa, văn học miền Nam, nhờ có tự do và không bị chỉ đạo phải viết cái gì và viết ra sao, đã hồn nhiên khai thác và diễn tả tình tự cảm-nghiệm-sao-viết-ra-vậy của con người thời chiến.” [12]

***

Nhìn từ góc độ di sản, những gì một thời Việt Nam Cộng hòa để lại mà ta thấy được qua những thông tin vừa nêu, không chỉ là số lượng những sách, báo, văn nghệ phẩm đã phát hành và được lưu giữ. Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. 

Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp. Như Giáo sư Mark Graber khẳng định: “Những nội dung của hiến pháp không phải bắt nguồn từ những nguyên tắc trừu tượng của tư tưởng chính trị học, mà phải được đặt nền móng từ gia tài chính trị của một xã hội.” [13] Hay như các giáo sư A. Brickel và A. Kronman xác quyết rõ ràng hơn, rằng quyền lực của hiến pháp được xây lên “từ nền tảng của lịch sử và truyền thống, nơi những kinh nghiệm của một quá khứ có thật, chứ không phải từ những điều kiện tiền định được tưởng tượng ra.” [14]

Theo đó, chính mỗi cộng đồng người nói chung, chứ không phải các nhà lập pháp, đã tạo ra hiến pháp để ghi nhận những giá trị mà cộng đồng đó đang có hoặc kỳ vọng đạt được, và muốn truyền lại cho đời sau. Và vì vậy, bầu phong hóa chính trị của một nhà nước có thể vẫn tiếp tục hiện hữu trong nhận thức của nhân dân ngay cả khi chính thể tạo nên nó không còn nữa. Điều này có lẽ cũng đúng với những “cựu công dân” lẫn hậu nhân của Việt Nam Cộng hòa.

Bầu cử Hạ viện năm 1971 tại trường Gia Long.

Như trong một nghiên cứu của Như-Ngọc T. Ông và David S. Meyer công bố vào năm 2008 đã chỉ ra, người Việt di cư thuộc một trong số những cộng đồng châu Á có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất tại Hoa Kỳ. Trong giai đoạn 1990-2000, thu nhập bình quân đầu người của nhóm này đã tăng gấp đôi. Chưa kể, tỷ lệ hộ gia đình có thu nhập thấp cũng khá ít. [15]

Nghiên cứu này cũng cho biết, so với các cộng đồng người Mỹ gốc Á khác, người Việt có xu hướng tích cực tham gia vào các hoạt động chính trị hơn. Đặc biệt, các tác giả nhận định, nhờ đã quen thuộc với bầu không khí chính trị thời Việt Nam Cộng hòa, cộng đồng này tỏ ra rất nhiệt tình, sôi nổi với các hoạt động tuần hành, biểu tình để bày tỏ chính kiến hay để phản kháng, đấu tranh. [16]

Từ góc nhìn pháp lý, người ta gọi phần văn hóa nhận thức, với những giá trị san sẻ chung trong đời sống của một cộng đồng, được người ta mặc nhiên thừa nhận và tuân theo là phần “hiến pháp bất thành văn” (unwritten constitution/ uncodified constitution). [17] Và có lẽ, một bản hiến pháp, một thể chế chính trị, ngay cả khi đã bị chối bỏ về mặt thực tiễn, vẫn có thể còn được công nhận và bảo lưu về mặt tinh thần trong một cộng đồng chưa từng chối bỏ nó. 

Những nội dung hiến định trong Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa về tư hữu, hữu sản hóa, về nhân quyền, về tự do, thực tế cho thấy, đã giúp tạo dựng nên một nền kinh tế thị trường có những tiến bộ nhất định ngay từ những năm trước 1975 tại miền Nam. Đồng thời, chúng cũng đã tạo nên bầu không khí tham chính và đấu tranh sôi nổi bằng nhiều hình thức của người miền Nam thời bấy giờ. Những yếu tố này, có vẻ như cũng đã vượt trùng dương sóng vỗ để tiếp tục theo chân người Việt tới những miền đất mới, để tiếp tục không ngừng định hình đời sống mới của cộng đồng người Việt ly hương.

Đường Tự Do với khách sạn Continental. Ảnh: Dale Ellingson.

Một cách nhìn di sản lịch sử

Nhà luật học người Mỹ Henry Monaghan từng nhận định: “Khía cạnh duy nhất hoàn hảo của một bản hiến pháp nằm ở chỗ nó được tạo ra đúng cách.” [18]

Cách hiểu này cũng tương tự điều Nguyễn Văn Thiệu viết: không một nền dân chủ nào là trọn vẹn, cũng không một bản hiến pháp nào là hoàn mỹ. Và thực tế, bản thân chính thể Việt Nam Cộng hòa hay bản Hiến pháp 1967 cũng có những vấn đề, những thiếu sót nhất định. Do đó, điều con người ta cần hướng đến không phải là nỗ lực dựng lại, hồi sinh một chính thể, một hiến pháp đã thuộc về lịch sử, nhất là khi những thiết chế ấy là bất toàn, mang trong mình những hạn chế cố hữu. 

***

Những tạo vật mà người xưa để lại, cố nhiên là di sản trao truyền cho người nay. Và di sản, không chỉ là của để dành, còn là nợ phải trả. 

Phần của, gồm những gì tinh túy có thể góp nhặt, mang vẹn nguyên giá trị vận dụng để hậu thế kế thừa và tiếp bước. Phần nợ, là những bản đề án dang dở, hay những gì người xưa còn thiếu sót, và người nay phải góp sức bổ khuyết, hoàn thành.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ảnh: U.S. National Archives.

Lẽ chăng, những hứa hẹn cao đẹp một thời của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cùng với bản Hiến pháp 1967 chính là những đề án dang dở mà người nay không thể khước từ. Bởi đó là bản đề án tất yếu của một nhà nước muốn trở nên dân chủ, tự do, văn minh và tiến bộ, những mục tiêu đã được tuyên xưng trong lời hiệu triệu của ông Thiệu và lời nói đầu của bản hiến pháp. Và vì thế, người ta dù muốn hay không, vẫn buộc phải gánh trên vai món nợ ấy, để trả thay tiền nhân, để hoàn thành một ước mơ đáng mơ ước nhưng bị gián đoạn; một khát khao đáng khao khát nhưng chưa tung cánh. 

Nhưng tại sao lại gọi là nợ? Và tại sao lại gọi là thiếu sót? Mỗi thời đại chẳng phải luôn có hoàn cảnh riêng, chịu những điều kiện khung chi phối và quy định theo cách riêng hay sao?

Đúng là thế. Để hiểu đúng về lịch sử, người ta cần phải xem xét đối tượng trong đúng thời đại mà nó ra đời và hiện diện, với những điều kiện và chất liệu quy định nên nó. Cách nhìn này nhằm tránh những phán xét bất công và áp đặt vô lý, để đánh giá đúng giá trị, thành quả, công hay tội của con người trong một thời đại nhất định. 

Thế nhưng nếu muốn hiểu đúng về di sản, trái lại, cần phải dùng cái nhìn của con người thời nay để công tâm đánh giá những nên, hư, được, mất nơi những gì tiền nhân đã làm. Rồi từ đó, rút ra đâu những là điều người xưa còn thiếu sót, đâu là những bản kế hoạch chưa hoàn công, và theo đó xác định mỗi chúng ta tiếp đến cần, hay nên làm gì.

Khác biệt căn bản nằm ở chỗ, từ tâm thế tiếp nhận di sản, người ta nhìn ra nợ để trả nợ, nhìn thấy sai để sửa sai, chứ không phải để luận tội hay oán trách.

***

Sau biến cố 1975, bản hiến pháp thành văn của miền Nam đã chính thức trở thành một hiện vật bị khóa chặt trong bảo tàng của quá khứ. Nhưng có lẽ, không ít cựu công dân của Việt Nam Cộng hòa dù muốn hay không, cố tình hay vô ý, vẫn sẽ còn mang theo bên mình phiên bản bất thành văn của nó, bất kể tiếp theo đây họ sẽ bước đi giữa nền chính trị nào. 

Và ngay cả những ai chưa từng là công dân của chế độ miền Nam ngày xưa, ít nhiều cũng bị buộc phải thừa hưởng khối di sản ấy, trong hình thức một khoản nợ nần. 

Đó là món nợ mà người nay phải trả thay người xưa: phải hoàn trả cho nước Việt một bản hiến pháp thành văn đầy đủ tinh thần dân chủ. 

Đó cũng là món nợ mà những người nay đang nợ nhau: một bản hiến pháp dân chủ bất thành văn, có mặt trong đời sống tinh thần của cộng đồng. Và bản hiến pháp bất thành văn ấy chỉ có thể được tạo thành khi mỗi người dân đều thấy rõ nền chính trị đương thời, cũng như bản hiến pháp hiện tại đang thiếu sót những gì, đang có sai lầm nào cần sửa chữa.

Luật Khoa ra mắt số báo đặc biệt: 70 năm Việt Nam Cộng hòa – Chân dung và Di sản

Số báo đặc biệt “70 năm Việt Nam Cộng hòa – Chân dung và Di sản” và bài viết “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở” của tác giả Hải Sa trong số báo.

Luật Khoa tạp chí theo đuổi đề tài Việt Nam Cộng hòa ngay từ những ngày đầu thành lập vào năm 2014, với nỗi tò mò sâu sắc về một trong những đề tài bị chính quyền che giấu và kiểm duyệt nặng nề nhất. Tò mò nhưng cũng nghe được tiếng lòng rung động của những người ở cả hai phía, chúng tôi tự gán cho mình cái sứ mệnh ghi chép lại không chỉ là dữ liệu lịch sử mà cả những tiếng lòng đó. 

Số báo này là một nỗ lực như vậy. Đây không phải số báo đầu tiên của chúng tôi về Việt Nam Cộng hòa. Và chắc chắn không phải số báo cuối cùng. Ngoài các bài báo, chúng tôi còn có Dự án 1975, chuyên sưu tầm dữ liệu lịch sử – kể cả những câu chuyện kể của các nhân chứng.

Trong số báo này, bạn đọc sẽ cùng chúng tôi lần lại lịch sử của Việt Nam Cộng hòa từ khi chính thể này còn phôi thai trong trứng nước của Quốc gia Việt Nam cho tới những giây phút cuối cùng khi Dương Văn Minh đọc giấy khai tử vào trưa ngày 30/4/1975. 

Tải báo

Đọc thêm:

Luật Khoa ra mắt số báo đặc biệt - 70 năm Việt Nam Cộng hòa: Chân dung và Di sản.
Luật Khoa ra mắt số báo đặc biệt – 70 năm Việt Nam Cộng hòa: Chân dung và Di sản
Trong số báo này, bạn đọc sẽ cùng chúng tôi lần lại lịch sử của Việt Nam Cộng hòa từ khi chính thể này còn phôi thai trong trứng nước của Quốc gia Việt Nam cho tới những giây phút cuối cùng khi Dương Văn Minh đọc giấy khai tử vào trưa ngày 30/4/1975.
Chú thích

1. Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa. (1974). Sài Gòn: Cơ sở Ấn loát trung ương Bộ Dân vận và Chiêu hồi, tr. 8-9.

2. Wikimedia. (2022, July 13). Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956. https://vi.wikisource.org/wiki/Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_1956 

3. Wikimedia. (2023, March 5). Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946. https://vi.wikisource.org/wiki/Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p_Vi%E1%BB%87t_Nam_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_1946 

4. Hoàng Dạ Lan. (2025, July 20). Hiến pháp 1967: Bản hiến pháp tiến bộ và dân chủ nhất trong lịch sử Việt Nam. Luật Khoa Tạp Chí. https://luatkhoa.com/2024/04/hien-phap-1967-ban-hien-phap-tien-bo-va-dan-chu-nhat-trong-lich-su-viet-nam/ 

5. United Nations. (n.d.). Universal Declaration of Human Rights | United Nations. https://www.un.org/en/about-us/universal-declaration-of-human-rights 

6. United Nations. (1967). International Covenant on Civil and Political Rights. New York: United Nations. https://treaties.un.org/doc/treaties/1976/03/19760323%2006-17%20am/ch_iv_04.pdf 

7. Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa. Sđd, tr. 20.

8. Convention C169 – Indigenous and Tribal Peoples Convention, 1989 (No. 169). (n.d.). https://normlex.ilo.org/dyn/nrmlx_en/f?p=NORMLEXPUB:12100:0::NO::P12100_ILO_CODE:C169 

9. Tuong, Vu, Sean, Fear (ed.). (2019). The Republic of Vietnam, 1955–1975: Vietnamese Perspectives on Nation Building. Ithaca: Cornell University Press, p. 182.

10. Matthew Masur et al. (n.d.) Saigon Revisited: Researching South Vietnam’s Republican Era (1954-1975) at Archives and Libraries in Ho Chi Minh City, p. 10. 

11. Nguyen, V. N. (1998). Print media in the process of development in Vietnam, p.5.

12. Dương T. (2025, July 12). Văn học miền Nam: Từ bức tử tới phục sinh. Luật Khoa Tạp Chí. https://luatkhoa.com/2025/06/van-hoc-mien-nam-tu-buc-tu-toi-phuc-sinh/ 

13. Graber, M. A. (1989). Our (Im) Perfect Constitution. The Review of Politics, 51(1), 86-106, p. 89.

14. Kronman, A. T. (1985). Alexander Bickel’s Philosophy of Prudence. The Yale Law Journal, 94(7), 1567-1616, p. 1603.

15. Ông, N. N. T., & Meyer, D. S. (2008). Protest and Political Incorporation: Vietnamese American Protests in Orange County, California, 1975–2001. Journal of Vietnamese Studies, 3(1), 78-107.

16. Ông, N. N. T., & Meyer, D. S. (2008). Ibid.

17. Johari, J. C. (2006) New Comparative Government. New Delhi: Lotus Press, p. 167.

18. Monaghan, H. P. (1981). “Our Perfect Constitution”. NYUL rev., 56, 353, p. 358.

Để lại một bình luận Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tính năng bình luận chỉ dành cho thành viên

Vui lòng đăng nhập để bình luận

ĐĂNG NHẬP

Bài mới nhất

Đồ họa: Tê Tê/Luật Khoa. Dân sinh

Tiền sắm Tết: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua”

“Ảm đạm”, “dè dặt”, “sức mua chậm”, v.v. là những từ ngữ mà báo chí, truyền thông nhiều ngày qua dùng để mô tả tình…
Hiếu Mạnh 13/02/2026 1
Nguồn ảnh: ngannv/pixabay. Đồ họa: Tê Tê/Luật Khoa. Dân sinh

Kiều hối: dòng tiền chính quyền luôn trông chờ từ “khúc ruột ngàn dặm”

Thái độ của chính quyền Việt Nam đối với cộng đồng người Việt ở hải ngoại luôn tồn tại hai lớp giọng: khi thì là…
Thúc Kháng 13/02/2026
Nguồn ảnh: Media Quốc hội, VGP News. Chính trị

Quốc hội ở đâu khi Nghị định 46 gây bức xúc dư luận?

Trước thềm Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, giới doanh nghiệp và nông hộ Việt Nam đã có phen khốn đốn tưởng chừng “mất Tết”…
Trường An 13/02/2026
Video

Mậu Thân: Bí mật đen tối nhất của bên thắng cuộc

Mùa hè đỏ lửa – https://youtu.be/Z4Z-9oZ4QVU Đại lộ kinh hoàng – https://youtu.be/SNMETMBdbJA 🚀 Giúp Luật Khoa tiếp tục sản xuất các video bằng cách: ➡…
Luật Khoa tạp chí 17/02/2026
Video

Việt Nam hay Trung Quốc giành chiến thắng trong cuộc chiến 1979?

🚀 Giúp Luật Khoa tiếp tục sản xuất các video bằng cách: ➡ Đăng ký thành viên thông qua Youtube (Quyền xem trước, xem các…
Luật Khoa tạp chí 16/02/2026

Đang tải thêm bài viết...

Không còn bài viết nào khác

Nổi bật trong tuần

Tiền sắm Tết: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua”

Tiền sắm Tết: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua”

Kiều hối: dòng tiền chính quyền luôn trông chờ từ “khúc ruột ngàn dặm”

Kiều hối: dòng tiền chính quyền luôn trông chờ từ “khúc ruột ngàn dặm”

Quốc hội ở đâu khi Nghị định 46 gây bức xúc dư luận?

Quốc hội ở đâu khi Nghị định 46 gây bức xúc dư luận?

Việt Nam hay Trung Quốc giành chiến thắng trong cuộc chiến 1979?

Việt Nam hay Trung Quốc giành chiến thắng trong cuộc chiến 1979?

Mậu Thân: Bí mật đen tối nhất của bên thắng cuộc

Mậu Thân: Bí mật đen tối nhất của bên thắng cuộc

Luật Khoa tạp chí

  • Về chúng tôi
  • Tuyển dụng
  • Cộng tác
  • Đề xuất đề tài
  • Liên lạc với Luật khoa
  • Gửi bài

Welcome Back!

Sign In with Google
OR

Login to your account below

Forgotten Password? Sign Up

Create New Account!

Sign Up with Google
OR

Fill the forms bellow to register

All fields are required. Log In

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In

Add New Playlist

1461/3000 Member trước 6/2026

Không có kết quả nào
Xem tất cả kết quả
ĐĂNG KÝ GÓI TRẢ PHÍ

  • 1975 Supporter
  • Bạn hỏi, Luật Khoa trả lời
  • Banner Test Page
  • Báo lỗi
  • Bao Thang Test Page
  • Chương trình Tặng Báo: Luật Khoa kêu gọi tài trợ phí đọc báo cho học sinh – sinh viên
  • Cộng tác với Luật Khoa
  • Contact
  • Đăng ký thư tin
  • Đăng nhập
  • Đăng nhập
  • Đề xuất đề tài
  • Gửi bài
  • Hãy đăng ký thành viên để tải báo
  • Header Test Page
  • Home 1
  • Liên lạc
  • Luật Khoa tạp chí
  • Membership
  • Membership [OLD ELEMENTOR]
  • Membership Checkout Level 27 Test
  • Membership Pricing
  • Membership Registration
  • Membership Test Page
  • Membership ThankYou
  • My Account
  • Newsletter
  • Sample Page
  • Tài khoản gói thành viên
    • Chúc mừng bạn đã đăng ký thành công!
  • Thoi su test page
  • Trang tài khoản
    • Hồ sơ của bạn
    • Hóa đơn
    • Hủy thanh toán
    • Membership Billing
Are you sure want to unlock this post?
Unlock left : 0
Are you sure want to cancel subscription?