Động cơ của việc tích trữ vàng đến từ tâm lý cần sự an toàn và thiếu lựa chọn minh bạch. Do đó nhà nước nên cải cách thị trường, tạo kênh đầu tư an toàn, và không gây áp lực lên người dân.
Ngày 30/10, khi thảo luận về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước, đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn Vĩnh Long) cho rằng hai nguồn lực quan trọng nhưng chưa được khai thác tương xứng là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và nguồn lực vàng – tài sản tích lũy trong dân.
Theo đại biểu này, người dân Việt Nam hiện nắm giữ khoảng 400-500 tấn vàng, tương đương 35-40 tỷ USD, và con số này chiếm gần 8% GDP đất nước. [1]
Tuy nhiên, vấn đề ở đây không phải đơn thuần là huy động vàng ra sao, mà là làm sao để người dân không còn tích giữ vàng vì lý do lo sợ. Như vậy, nhà nước cần tạo ra lựa chọn thay thế đủ sức hấp dẫn, minh bạch và an toàn hơn cho nhân dân.
Vì sao người dân giữ vàng?
Trước hết, cần phải hiểu rõ lý do người dân chọn giữ vàng, từ đó ta mới biết cách tiếp cận đúng khi tư duy về đối sách hay chính sách.
Nhiều nghiên cứu cho thấy vàng vẫn là một kênh tài sản mang tính truyền thống.Một nghiên cứu công phu có nhan đề “Understanding asset holdings of Vietnamese households” (tạm dịch: Hiểu biết về tài sản nắm giữ của hộ gia đình Việt Nam) chỉ ra rằng vàng và trang sức chủ yếu được dùng như tài sản dự trữ khi xuất hiện cú sốc sức khỏe, sự kiện trọng đại của gia đình, hoặc khi các kênh tiết kiệm và đầu tư khác còn rủi ro. Điểm quan trọng là các hộ gia đình Việt Nam có xu hướng dựa vào những tài sản này như một khoản tiết kiệm phòng ngừa. [2]

