Ngay khi tuyên bố thành lập vào tháng 8/1948, nền Đệ nhất Cộng hòa non trẻ của Hàn Quốc đã phải đối mặt với một tương lai bất định: lực lượng cộng sản tuy đã rút khỏi miền Nam Cao Ly nhưng thế lực cộng sản quốc tế đã vừa chiến thắng ở Trung Quốc đại lục. Trong khi đó, Hoa Kỳ chỉ để lại vài cố vấn sau khi rút chính quyền quân quản khỏi miền Nam bán đảo Triều Tiên.
Ngoài ra, hiến pháp của Đệ nhất Đại Hàn Dân Quốc khẳng định nguyên tắc cộng hòa, tam quyền phân lập và bầu cử phổ thông đầu phiếu. Tuy nhiên, trên thực tế, quyền lực tập trung mạnh vào tổng thống, tạo điều kiện cho Lý Thừa Vãn xây dựng một hệ thống chính trị mang tính cá nhân hóa cao.
Nền Đệ nhất Cộng hòa mang những điểm đặc thù của một nhà nước ra đời trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh.
Một mặt, nó được thiết kế để đối lập trực diện với chế độ cộng sản ở miền Bắc, với sự bảo trợ quân sự và chính trị của Hoa Kỳ. Mặt khác, nó phản ánh di sản của thời kỳ quân quản: một bộ máy an ninh chống cộng mạnh mẽ, một nền chính trị bị chi phối bởi cánh hữu, và một xã hội phân cực sâu sắc về ý thức hệ.
Những yếu tố này khiến nền cộng hòa mới vừa mang dáng dấp của một thể chế dân chủ hiện đại, vừa mang mầm mống bất ổn từ sự thiếu vắng các cơ chế tạo đồng thuận xã hội.
Trong bối cảnh ấy, nền Đệ nhất Cộng hòa của Đại Hàn Dân Quốc có thể được nhìn nhận như một thử nghiệm dân chủ non trẻ nhưng đầy mâu thuẫn. Nó đặt nền móng cho thể chế cộng hòa tại Hàn Quốc, đồng thời tạo tiền đề cho những cuộc khủng hoảng chính trị kéo dài suốt thập niên 1950, dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Lý Thừa Vãn năm 1960.

