Đợt bão lũ vừa qua tại các tỉnh Trung Bộ đã phơi bày nhiều điểm yếu mang tính hệ thống của bộ máy chính trị: từ dấu hiệu lợi ích nhóm trong quá trình phê duyệt các dự án thủy điện, đến những bất cập của việc sắp xếp lại đơn vị hành chính, qua đó bộc lộ năng lực hạn chế của chính quyền trong công tác cảnh báo và cứu hộ thiên tai.
Đồng thời, việc một đảng nắm quyền tuyệt đối làm suy yếu các cơ chế kiểm soát quyền lực, đẩy nhà nước ngày càng trượt sâu vào mô hình công an trị. Trong khi đó, giới lãnh đạo chóp bu, cụ thể là phe quân đội và phe công an, tiếp tục chìm trong cuộc chiến tranh chấp quyền lực.
Không có báo chí độc lập, người dân không thể tiếp cận thông tin khách quan về thảm họa, cũng như không thể biết chính xác mức độ thiệt hại về nhân mạng và tài sản.
Không có bầu cử tự do và cạnh tranh, vận mệnh chính trị của lãnh đạo không gắn liền với sự hài lòng và chất lượng cuộc sống của người dân. Điều này làm suy giảm động lực phụng sự và khiến trách nhiệm giải trình trước xã hội trở nên mờ nhạt.
Thêm vào đó, không gian xã hội dân sự bị hạn chế dẫn đến sự thiếu vắng các tổ chức chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp có khả năng hỗ trợ chính quyền trong công tác phòng ngừa, ứng phó và cứu trợ sau thiên tai.
Như trường hợp của Hoa Kỳ sau thảm họa bão Katrina năm 2005 cho thấy vai trò của cơ chế trách nhiệm trong một nền dân chủ. Cơ quan Quản lý Tình trạng Khẩn cấp Liên bang (FEMA) đã hứng chịu chỉ trích gay gắt vì phản ứng chậm chạp và yếu kém, dẫn đến việc Giám đốc FEMA khi đó, Michael Brown, phải từ chức. Uy tín và mức độ ủng hộ đối với Tổng thống George W. Bush cũng sụt giảm đáng kể sau thảm họa. [1]


Em thắc mắc là liệu việc áp dụng mô hình đại nghị có gây ra những hỗn loạn trong nội bộ trong hệ thống chính phủ không?
Cụ thể:
– Việc có những bên khác có thể bỏ phiếu bất tín nhiệm có dẫn đến tình hình nội bộ đấu đá, chơi xấu để tranh giành quyền lực nhằm được lên thay thế, nắm quyền thay vì tập trung vào các vấn đề của đất nước?
– Việc khi 2 bên không thống nhất, chính quyền độc tài quân phiệt có thể lên nắm quyền. Vậy việc chính quyền độc tài quân phiệt có gây ra những hỗn loạn trong đất nước không (trường hợp Malaysia là 1 case mà đất nước đã hỗn loạn nhiều năm vì điều này gây ra)
– Việt Nam là một nước có rất nhiều sắc tộc, tôn giáo.. vậy việc 1 bên lên nắm quyền có gây nên những xung đột phân cực mạnh mẽ, và làm cách nào để giải quyết.
Đây là một bài viết hay, và ở khía cạnh nào đó, em đồng tình với quan điểm người viết. Tuy nhiên, trước 1 sự thay đổi nào cũng cần 1 sự chuẩn bị và cân nhắc chính đáng. Em hy vọng có thể được Luật Khoa giải đáp, hoặc cho em thêm những nguồn đọc để giải đáp thắc mắc ạ! Em xin cảm ơn
Lan xin cảm ơn câu hỏi rất kỹ và nghiêm túc của bạn. Mình xin trả lời lần lượt từng ý như sau:
Bạn đặt vấn đề rằng: “Việc có những bên khác có thể bỏ phiếu bất tín nhiệm có dẫn đến tình trạng đấu đá nội bộ, chơi xấu để tranh giành quyền lực, nhằm lên thay nắm quyền thay vì tập trung giải quyết các vấn đề của đất nước hay không?”
Trong chế độ đại nghị, khi Thủ tướng bị Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm (vote of no confidence), tức là đa số nghị sĩ không còn ủng hộ Thủ tướng, thì về nguyên tắc có hai kịch bản chính có thể xảy ra:
• Thứ nhất, đảng cầm quyền (tức đảng của Thủ tướng vừa bị bất tín nhiệm) có thể tổ chức bầu cử nội bộ để chọn ra đảng trưởng mới, người này sau đó sẽ trở thành Thủ tướng mới nếu vẫn giữ được đa số trong Hạ viện.
• Thứ hai, Thủ tướng có thể đề nghị nguyên thủ quốc gia (chủ tịch nước hoặc tổng thống mang tính nghi lễ, khác với tổng thống trong chế độ tổng thống) giải tán Quốc hội và tổ chức bầu cử sớm, qua đó trả quyền quyết định lại cho cử tri.
Cần lưu ý rằng trong mô hình đại nghị, Thủ tướng thường là lãnh đạo đảng hoặc liên minh nắm nhiều ghế nhất trong Hạ viện. Do đó, dù phe đối lập có kêu gọi bỏ phiếu bất tín nhiệm, nhưng nếu không tập hợp được quá bán số nghị sĩ, thì việc lật đổ Thủ tướng trên thực tế là rất khó.
Nghiên cứu “Unsuccessful Success? Failed No-Confidence Motions, Competence Signals, and Electoral Support” của Williams (2011) cho thấy, các kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm thường do phe đối lập khởi xướng, nhưng tỷ lệ thành công chỉ khoảng 5%. Dù tỷ lệ thành công thấp, phe đối lập vẫn tiến hành các kiến nghị này vì đây là cơ hội để vạch ra điểm yếu của chính phủ đương nhiệm, qua đó tăng mức độ nhận diện và sự ủng hộ của cử tri trong các kỳ bầu cử tiếp theo, hơn là nhằm mục tiêu thực sự lật đổ chính phủ.
Nếu lo ngại việc thay đổi chính phủ quá thường xuyên, thì hoàn toàn có thể thiết kế cơ chế hiến định để giảm rủi ro này. Một ví dụ tiêu biểu là mô hình của Đức với cơ chế “bỏ phiếu bất tín nhiệm mang tính xây dựng” (constructive vote of no confidence) được quy định tại Điều 67 của Hiến pháp Đức. Theo đó, Quốc hội không được phép lật đổ Thủ tướng nếu không đồng thời bầu ra được ngay người kế nhiệm. Cơ chế này giúp tránh tình trạng tạo ra khoảng trống quyền lực, khi Thủ tướng cũ đã bị bãi nhiệm nhưng Quốc hội lại chưa thống nhất được người thay thế.
Bên cạnh đó, Điều 68 của Hiến pháp Đức quy định rằng trong trường hợp Thủ tướng không còn được đa số nghị sĩ tín nhiệm, nhưng Quốc hội cũng không bầu được Thủ tướng mới, thì Tổng thống (mang tính nghi lễ) có thể giải tán Quốc hội và trả quyền quyết định về tay cử tri thông qua bầu cử sớm. Hai điều khoản này kết hợp với nhau đã góp phần quan trọng giúp chính phủ Đức từ sau Thế chiến II rất ổn định, hiếm khi phải thay Thủ tướng giữa nhiệm kỳ. Dù cùng theo mô hình đại nghị, nhưng mức độ ổn định của Đức cao hơn đáng kể so với Nhật Bản: từ năm 1993 đến nay, Nhật Bản đã thay 14 Thủ tướng, trong khi Đức chỉ có 3 Thủ tướng trong cùng khoảng thời gian.
Về câu hỏi liên quan đến Malaysia, mình không phải là chuyên gia về chính trị Malaysia, nhưng Wikipedia, giai đoạn 2020–2022 nước này đúng là trải qua bất ổn chính trị do sự tan rã và tái cấu trúc của các liên minh cầm quyền. Tuy nhiên, điều quan trọng là không hề có sự can thiệp của tướng lĩnh quân đội để thiết lập một chế độ độc tài quân phiệt tại Malaysia. Sự bất ổn ở đây là bất ổn nghị viện, không phải bất ổn do quân đội nắm quyền.
Chuỗi bài viết mà mình đề xuất cho Việt Nam lựa chọn mô hình đại nghị xuất phát từ nhận định rằng đây là mô hình ít rủi ro nhất trong giai đoạn chuyển đổi dân chủ, chứ không phải vì nó hoàn hảo hay không có bất ổn. Trên thực tế, 5 năm đầu sau chuyển đổi dân chủ ở hầu hết các quốc gia đều là giai đoạn nhiều xáo trộn. Nếu lựa chọn mô hình tổng thống trong bối cảnh này, nguy cơ xuất hiện một “lãnh đạo cứu tinh” là rất lớn, như các trường hợp Putin ở Nga, Lukashenko ở Belarus, hay Gurbanguly Berdimuhamedow ở Turkmenistan – những người ban đầu được bầu hợp pháp, nhưng sau đó đàn áp đối lập, thâu tóm quyền lực và cầm quyền suốt nhiều thập kỷ. Vấn đề này mình đã phân tích khá kỹ trong loạt bài về chuyển đổi ở các nước hậu cộng sản.
Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các mô hình chuyển đổi chính trị trong bối cảnh gần đây, đặc biệt là giai đoạn trong và sau COVID-19, Tunisia là một trường hợp rất đáng tham khảo.
Cuối cùng, đối với câu hỏi về xã hội đa sắc tộc, đa tôn giáo, thì lại càng nên tránh mô hình tổng thống, bởi tính chất “được ăn cả, ngã về không” của bầu cử tổng thống rất dễ làm trầm trọng hóa phân cực xã hội. Điều này đã được mình phân tích trong bài qua ví dụ về Iraq.
Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về các vấn đề này, mình xin giới thiệu một số tài liệu tham khảo sau:
• Introducing Comparative Politics: Concepts and Cases in Context – Stephen Orvis & Carol Ann Drogus
• Essentials of Comparative Politics – Patrick H. O’Neil
• Introduction to Political Science: How to Think for Yourself About Politics – Craig Parsons
Ở mức nâng cao hơn, có cuốn Electoral Systems and Democracy do Larry Diamond và Marc Plattner đồng chủ biên. Cuốn sách này đưa ra bốn mô hình cơ bản:
1. Tổng thống + bầu cử theo đa số (Hoa Kỳ),
2. Đại nghị + bầu cử theo đa số (Anh, Ấn Độ, Malaysia, Canada),
3. Tổng thống + bầu cử theo tỷ lệ (nhiều nước Mỹ Latin),
4. Đại nghị + bầu cử theo tỷ lệ (đa số các nước châu Âu).
Cuốn sách này trình bày các tranh luận học thuật rất sâu về việc hệ thống bầu cử và mô hình chính thể, tuy nhiên đòi hỏi người đọc có kiến thức nền khá vững về bầu cử và thể chế. Sách đã được nhóm Book Hunter dịch sang tiếng Việt với tên “Hệ thống bầu cử & Dân chủ”, nhưng đáng tiếc là không được phép xuất bản tại Việt Nam.
Lan hy vọng phần trả lời này phần nào giúp làm rõ những băn khoăn của bạn.