Báo tháng Mười Một – 2025: Vận nước - Luật Khoa tạp chí
Person

Dự án khác

LUẬT KHOA VÀ BẠN ĐỌC

Nhận thư tin hàng tuần, tham gia góp ý bài vở, và theo dõi hành trình làm báo độc lập của Luật Khoa

ĐĂNG KÝ NHẬN THƯ
Báo tháng Mười Một - 2025:

Vận nước

“Giáp Thìn, Thiệu Trị năm thứ 4 [1844], mùa thu, tháng Chín. Vua nhân bão lụt, tự xét và trách mình, cầu lời nói thẳng. Xuống dụ rằng: ‘[…] Đó đều là do ta đức bạc, không đôn được hòa khí của trời, nên mới đến thế! […] Nói đến đây ta rất đau lòng, cảm động đến chảy nước mắt! Chỉ vì ta tuổi trẻ, không tu được đức đế trừ bỏ thiên tai, đi sâu vào chỗ trách mình, chỉ nghĩ thế nào cho về sau được tốt […] Vậy nên quan viên trong triều và quan to ở các địa phương được xét rõ điều lỗi của ta, chính sự có thiếu sót thì nêu lên mà bày tỏ…’”

– Đại Nam thực lục, Chính biên, Đệ tam kỷ, Quyển XLII.

Quý độc giả thân mến,

Quyển lịch năm 2025 đang tiến về những ngày sau chót. Nhiều người có lẽ đã phải thấy mình may mắn, bởi đâu đó ở nhiều nơi, đã có những quyển lịch chỉ có thể được lật giở đến lưng chừng của tháng Mười Một. Giữa biển nước mênh mông và bóng đêm mờ mịt phủ lấy bao cuộc đời, bao sinh mạng, bao tiếng oán than, thì thời gian trên trang lịch chỉ còn là khái niệm quy ước tẻ nhạt, mơ hồ.

Không nghi ngờ gì, tháng Mười Một năm nay sẽ đi vào lịch sử. Sử sách sẽ chép lấy và buộc phải chép lấy sự kiện biển nước đục ngầu của lũ dữ đã nhấn chìm dải đất miền Trung, cuốn trôi bao sinh mạng, hủy hoại bao sinh kế, phủ kín bao tương lai, và khỏa lấp bao ẩn tình dưới làn nước mơ hồ, trắng xóa.

“Trắng xóa”, “mơ hồ” là những tính từ có thể dùng để mô tả một hiện trạng đã được trông thấy ngay nhãn tiền. Nhưng đó không chỉ là hiện trạng của mặt nước, của những người, những vật bị lũ dữ cuốn trôi hay xóa sổ, của những điều tuy trắng, tuy mờ nhưng ai cũng rõ.

“Trắng xóa”, “mơ hồ” còn dùng để mô tả một hiện trạng của lòng sâu, của mặt đáy, về những phạm vi trách nhiệm đã được tẩy xóa trắng bệch, và những lỗi lầm bỗng trở nên mơ hồ về tác nhân trong thảm họa vừa qua.

“Ai làm cho bể kia đầy…”

Ừ thì, người ta có thể nghĩ: Đã là thiên tai thì biết quy trách nhiệm về ai? Thế nhưng, câu hỏi ấy có lẽ chỉ phù hợp đặt ra trong một xã hội không có nhà nước. Bởi, hẳn không chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên của ngôn từ, khi “nước” chính là lý do đưa đến sự ra đời của rất nhiều nhà nước.

Hơn 4.000 năm trước, như cổ sử Trung Hoa thuật lại, vương triều nhà Hạ (thiên niên kỷ III-II TCN) – triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc – đã ra đời từ công cuộc “trị nước” của Hạ Vũ. “Trị nước” khi ấy được hiểu theo đúng nghĩa đen: tức là điều tiết dòng nước, khống chế lũ lụt, cốt để ngăn thiên tai, cứu nhân mạng, giúp mùa màng. Khởi từ Karl A. Wittfogel, nhiều sử gia đã có cùng nhận định rằng ở những khu vực nông nghiệp cổ xưa, chính yêu cầu về một bộ máy lãnh đạo có thể hiệu triệu sức người cho những công trình thủy lợi lớn đã đưa đến sự ra đời của nhà nước.

Nhà Lý (1009 – 1226) ngay sau khi lập quốc chưa lâu cũng đã có những hoạt động trị thủy tích cực, như đào sông Đãn Nãi (Thanh Hóa) năm 1029, đào kênh Lãm (Ninh Bình) năm 1051, khơi sâu dòng Lãnh Kinh năm 1089, hay khởi công xây dựng hệ thống đê sông Hồng bằng việc đắp đê Cơ Xá năm 1108. Các vương triều Trần, Lê về sau đã đặt những cơ quan chuyên coi sóc việc trị thủy, đê điều và đã liên tục nâng cấp, mở rộng, hoàn thiện hệ thống đê sông Hồng, với những dấu tích vẫn còn lưu lại đến ngày nay. Như sử gia Li Tana trong một nghiên cứu về dấu ấn chính trị, kinh tế của đồng bằng sông Hồng đã nhận định, rằng sự thăng trầm của xã hội thời Lý – Trần gắn bó chặt chẽ với sự biến động dòng chảy của con sông này.

Ta thấy rằng, tự ngàn xưa tại cõi Á Đông, trị thủy đã là căn nguyên, là giềng mối của trị quốc. Vận mệnh của đất nước, muôn đời nay, vẫn gắn chặt với vận mệnh của con nước.

Cách nói “thiên tai”, tức “họa của trời”, vì lẽ đó, không phải là lý do để con người, cụ thể là giới chức chính quyền có thể thoái thác trách nhiệm. Bởi nhìn rộng, vì các hoạt động sống của con người đã gây tác động mạnh đến thiên nhiên, nên nếu chính sách quản lý môi trường thiếu cân nhắc đến hệ quả, có thể khiến tần suất, cường độ và tính khó dự báo của thiên tai càng gia tăng. Còn khi nhìn cận cảnh, dễ thấy công tác thủy lợi, hoạt động cảnh báo, ứng phó với mưa lũ nếu chậm trễ, thiếu hiệu quả sẽ khiến tác động của thiên tai đến đời sống con người thêm nặng nề.

Không ngẫu nhiên mà nhà vua Thiệu Trị đã phải xuống dụ tự trách mình trước toàn thể quan viên, sau sự thất trận của triều đình lẫn bá tánh trước trận lụt lịch sử năm Giáp Thìn 1844. Lời “tự phê” chứa đầy những câu từ nặng nề, chua chát, như đầu bài viết đã lược dẫn. Đọc những dòng ấy, người ta có thể bảo, đó là do quan niệm có phần siêu hình của ngày xưa luôn gắn chặt đức độ của nhà vua với sự bình yên của xã tắc. Thế nhưng, câu chuyện này còn cho thấy rất rõ lề lối phân chia trách nhiệm rạch ròi của triều đình thời bấy giờ: chính quyền được lập ra để thay dân kiểm soát thiên tai, cho nên khi kiểm soát không tốt thì lỗi lớn nhất hiển nhiên nằm ở người đứng đầu chính quyền.

Dọc theo lịch sử của các vương triều phong kiến Việt Nam, ta bắt gặp không ít những lời dụ “tự phê” như thế. Từ dịch bệnh, hạn hán, bão lũ, những hiện tượng thời tiết cực đoan, những quyết sách sai lầm, đều khiến các bậc quân vương phải tự xét lỗi mình, và ra chiếu, dụ nhận lỗi công khai. Thậm chí như ta thấy, Thiệu Trị còn yêu cầu quan viên phải thấy rõ lỗi của ông, đề nghị họ lên tiếng khi nhận thấy quyết sách của triều đình có điều gì bất cập. Nét văn hóa ấy, dường như đã “cũ”, thậm chí, đã “lạ”.

Ngày nay, chuyện được nghe một lãnh đạo “cầu lời nói thẳng” có lẽ đã thành điều xa xỉ. Chẳng nói đâu xa, chính trong đợt lũ vừa qua, quần chúng khi muốn lên tiếng về điểm sai lầm, bất cập nào đó của chính quyền trong công tác chống lũ, đều phải đối diện rủi ro bị bắt bớ, luận tội. Đơn cử, ngày 23/11, Công an tỉnh Đắk Lắk đã xử lý 52 chủ tài khoản mạng xã hội vì cáo buộc “đưa tin sai sự thật về mưa lũ miền Trung”. Người ta có thể xử lý “đúng người, đúng tội”, nhưng động thái “xử lý nghiêm minh” ấy khó tránh gây nên thứ hiệu ứng “im lặng” lan rộng, bởi ai ai cũng phải cân nhắc lấy sự an toàn trước mỗi phát ngôn.

Khi các tiếng nói phản biện hoàn toàn bị triệt tiêu, cấm đoán, còn các kênh truyền thông “chính thống” lại đều thuộc về nhà nước, thì không có cái sai nào của chính quyền có thể được chỉ ra. Không bị ai vạch lỗi, và không muốn nhận sai, thì mặc nhiên người ta sẽ luôn là “đúng”.

***

Diện mạo chân thực của đợt mưa lũ vừa qua sẽ cần được nhìn nhận cho thật kỹ càng, thật rõ nét. Nhìn rõ, không phải chỉ để thỏa tâm lý quần chúng muốn truy ra ai phải chịu trách nhiệm. Quan trọng hơn, người ta cần nhìn rõ thực trạng để thấy đúng nguyên nhân, vì có tìm đúng nguyên nhân mới đề ra đúng giải pháp. Có như vậy, những thảm cảnh tương tự mới không còn tái diễn.

Báo chí độc lập có thể tham gia vào công cuộc “nhìn rõ” ấy. Khi giữ được tâm thế đủ tự do và khoảng cách đủ rạch ròi trước guồng máy kiểm duyệt, báo chí có thể phát huy đầy đủ vai trò của mình: viết ra đầy đủ và đúng thật những gì mắt thấy, tai nghe, bất kể điều được viết ra có đối chọi với chính quyền, có gây thù với thủy điện, hay có làm chướng mắt ông lớn doanh nghiệp nào.

Bao lâu mà mỗi người dân vẫn dè chừng đe búa mỗi khi muốn lên tiếng, bao lâu mà cái cớ “gây hoang mang dư luận” vẫn là tường thành chặn đứng dòng tin tức của báo đài, thì “sự thật” vẫn còn bị đánh đồng với những thông tin được đóng hộp, dán nhãn, để đợi được cấp phép lưu hành.

Khi sự thật không được trông thật rõ, nguyên do không được tìm thật đúng, đối sách phù hợp chưa xác định, thì sau đợt tai ương này, không biết sẽ còn bao nhiêu tai ương nữa? Và rồi, giữa biển nước lũ mênh mông cứ đi rồi lại đến ấy, mai này “vận nước” sẽ về đâu?

Ban Biên tập Luật Khoa tạp chí

Welcome Back!

Login to your account below

Create New Account!

Fill the forms bellow to register

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Add New Playlist

Are you sure want to unlock this post?
Unlock left : 0
Are you sure want to cancel subscription?