Tây Nguyên là vùng đất đặc thù với sự phong phú của các dân tộc thiểu số, những cộng đồng từng sinh sống từ rất lâu ở nơi đây.
Song, Chiến tranh Việt Nam đã tàn phá Tây Nguyên trên nhiều phương diện. Đây là một trong những nơi xảy ra các cuộc giao tranh ác liệt, chứng kiến nhiều chiến dịch ném bom quy mô và thậm chí là hứng chịu lượng lớn chất độc hóa học đáng kể trong chiến tranh.
Tây Nguyên cũng liên tiếp trải qua những biến động nội vùng nghiêm trọng. Dân số của những nhóm dân tộc bản địa bị suy giảm vì nhiều hệ quả. Trong khi đó, lối sống văn hóa – truyền thống của họ cũng liên tục bị gián đoạn.
Khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc vào tháng 4/1975, nhiều hy vọng được nhen nhóm về việc người dân vùng Tây Nguyên cuối cùng sẽ có thể trở về với các buôn làng miền núi, tìm lại được những giá trị cũng như lối sống bị tàn phá trước kia của mình.
Đáng tiếc là thực tế không phải như vậy.
Những gì xảy ra đối với Tây Nguyên cũng ít được biết đến hơn kể từ khi chính quyền cộng sản lên nắm quyền hoàn toàn ở miền Nam. Chỉ có những nhà dân tộc học Việt Nam được chính phủ mới cho phép mới có quyền nghiên cứu tại những khu vực này và vì vậy họ trở thành nguồn thông tin quan trọng về đời sống hiện tại của người dân bản địa nơi đây.
Tuy nhiên, góc nhìn về mặt lý thuyết hạn hẹp và rào cản về mặt chính trị lại giới hạn những thứ họ có thể thấy và cả những điều họ có thể nói.
Trong bài viết này, người viết giới thiệu một nghiên cứu có tên “Internal Colonialism in the Central Highlands of Vietnam” bởi tác giả Grant Evans, đăng tải trên Tạp chí về Các vấn đề xã hội ở Đông Nam Á (Journal of Social Issues in Southeast Asia), với hy vọng có thể cung cấp thêm một lượng thông tin đáng chú ý cho quý độc giả của Luật Khoa về một chủ đề rất bị hạn chế ở Việt Nam hiện nay. [1]
Trong nghiên cứu này, tác giả xem xét các tác động của việc di cư nội địa lên vùng Tây Nguyên lẫn sự hiểu biết của các nhà nhân chủng học Việt Nam về những diễn biến này như thế nào và từ đó rút ra được những dẫn chiếu đến những thay đổi về xã hội và văn hóa bởi các chính sách của chế độ mới, cũng như việc thực thi của giới chức thừa hành. Nghiên cứu cũng đưa ra khảo sát ngắn gọn về sự phản kháng của những người dân tộc bản địa đối với chủ nghĩa thực dân nội địa của người Việt.
***
Vấn đề đầu tiên được đề cập đến là những hệ quả mà người dân Tây Nguyên phải gánh chịu do chính sách dịch chuyển dân số liên tỉnh từ năm 1975. Chính sách bố trí lại dân cư được chính quyền Hà Nội đưa ra với những lý do không phải là mới như bố trí lại dân cư thời hậu chiến, phân bổ dân cư giữa nông thôn và thành thị, hay thậm chí là bảo vệ các khu vực giáp biên bằng người Việt thay vì các sắc dân thiểu số, v.v.
Tuy nhiên, các phong trào này được tổ chức rất kém, làm cho những người Việt đến sinh sống (hoặc bị buộc phải sinh sống) ở các khu vực miền cao gặp phải nhiều vấn đề xã hội.
Đầu tiên là sự khác biệt, nghi ngại, thù địch giữa nhóm người đến trước và sau năm 1975, đặc biệt là vấn đề tôn giáo.
Kế đến, ở các vùng kinh tế mới chưa từng được khai phá và gần như không có bất kỳ nền tảng tiện ích – quy hoạch nào, việc sử dụng biện pháp cưỡng chế “đi kinh tế mới” dẫn đến sự phản kháng từ những người bị buộc phải di cư lẫn những nhóm dân tộc thiểu số tiếp nhận làn sóng di cư. Hoặc đơn giản là nhiều người đến nhập cư tìm cách rời bỏ các khu kinh tế mới.
Mặt khác, các nhóm ở lại thì buộc phải tham gia vào các hoạt động hủy hoại môi trường diện rộng (phá rừng, phá hệ sinh thái để trồng trọt, chăn nuôi, khai thác lâm nghiệp).
Việc người đến từ các vùng đồng bằng chiếm đóng đất đai của người dân tộc thiểu số cũng liên tục dẫn đến những căng thẳng, xung đột giữa người Kinh và các sắc dân này.
Chi tiết hơn, tác giả đưa ra một số thông tin về sự tác động của chính sách kinh tế mới đối với riêng tỉnh Gia Lai – Kon Tum.
Theo các nhà hoạch định dân số trung ương, ở thời điểm sau năm 1975, đây là tỉnh có ít người sinh sống nhất và cần bổ sung dân cư, từ đó họ có cơ sở để cưỡng chế di dân đến.
Tuy nhiên, những nhà hoạch định này lại không tính đến việc phần lớn diện tích của tỉnh vốn không thể ở được do diện tích sườn dốc lớn và các dãy núi quá cao. Các khu vực có thể xây dựng, định cư, phát triển kinh tế chật hẹp khiến việc cưỡng bức di dân đến tỉnh này tạo ra vô vàn các xung đột giữa các nhóm sắc dân với nhau. Quy trình hoạch định dân số bất kể đặc điểm tự nhiên của khu vực phần nào cho thấy sự ngớ ngẩn, duy ý chí của các nhà hoạch định chính sách Việt Nam thời kỳ sau năm 1975.
***
Không chỉ vậy, tác giả cũng nghi ngại khi nhận thấy rằng thái độ của các nhà nhân chủng học Việt Nam nhìn chung là ủng hộ, tán thành với các chính sách cưỡng chế di dân và kìm nén sắc dân thiểu số của chính quyền ở Tây Nguyên.
Cũng có thể hiểu rằng, họ có rất ít sự lựa chọn. Hầu hết các nhà khoa học này không có cơ hội nào khác ngoài việc làm cho một viện nghiên cứu nhà nước, được tài trợ bởi ngân sách chính phủ.
Song cũng vì lý do này, chất lượng nghiên cứu và giá trị khoa học từ các nhóm nhà khoa học hay viện này giảm đi vô cùng đáng kể.
Đúng là vẫn có các nhóm dân tộc học Việt Nam đã cố gắng ghi lại chi tiết đời sống của người dân bản địa, thể hiện sự thông cảm nhất định dành cho những bức xúc của họ. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, các nghiên cứu đều có nền tảng lý thuyết, thực tiễn vô cùng sơ sài, và lại còn phải choàng thêm gánh nặng “hợp lý hóa” các chính sách hiện có của đảng đối với các nhóm dân tộc thiểu số.
Điều này dẫn đến một trải nghiệm lạ lùng khi đọc các nghiên cứu kể trên.
Lấy dẫn chứng cho vấn đề này, chúng ta có thể kể đến một vài nghiên cứu của Đặng Nghiêm Vạn – Phó Viện trưởng Viện Dân tộc học ở Hà Nội, ông đồng thời là người phụ trách một chương trình nghiên cứu về Tây Nguyên.
Trước đó, giới khoa học nhà nước luôn vật lộn với các câu hỏi hình thái “cộng sản nguyên thủy” trong đời sống của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên không tương thích với định hướng phát triển chủ nghĩa xã hội của Việt Nam hiện thời hay cấu trúc xã hội truyền thống ở Tây Nguyên là “ngược ngạo” và sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội Việt Nam nói chung.
Nói cách khác, họ không thể nào thoát khỏi việc quy chiếu nền tảng kinh tế – xã hội của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên vào quan điểm của chủ nghĩa Marx-Lenin.
Đặng Nghiêm Vạn là một trong số ít nhà nghiên cứu dường như cố gắng thay đổi quan điểm này.
Ông bắt đầu đưa ra những “phản biện” liên quan đến chương trình di dân và tái cấu trúc xã hội Tây Nguyên trên diện rộng, mặc dù nó vẫn nằm trong sự chấp nhận được về mặt chính trị. Ngoài ra, ông cũng lần đầu mô tả sự tương phản chính trị – xã hội – tôn giáo cơ bản giữa những nhóm người Việt đến định cư và các dân tộc thiểu số ở vùng Tây Nguyên. Đây là một hiện thực vốn từ lâu đã bị gạt bỏ khỏi các cuộc thảo luận liên quan, khiến cho quá trình bần cùng hóa các sắc dân thiểu số ở Tây Nguyên cho đến nay vẫn ít được chú ý tới ở trong nước.
***
Trở lại vấn đề chính sách dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, ngay từ đại hội toàn quốc lần thứ nhất vào năm 1935, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng hứa hẹn về quyền tự trị cho họ.
Sau đó, việc các khu tự trị dân tộc thiểu số là bộ phận hợp thành và không tách rời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được nhắc đến trong bản Hiến pháp 1960.
Thực tế cho thấy, một số khu vực có danh nghĩa tự trị đã được thành lập ở khu vực miền núi phía Bắc sau năm 1954. Sự tồn tại của các khu tự trị này là vũ khí tuyên truyền quan trọng trong tay chính quyền cộng sản trong suốt cuộc chiến với miền Nam, đặc biệt là sau sự xuất hiện của FULRO và các thủ lĩnh chính trị người Tây Nguyên.
Rất nhiều người trong số họ đã bị thu hút bởi lời hứa về quyền tự trị của những người cộng sản, và từ đó trở thành lực lượng đối kháng với chính quyền Việt Nam Cộng hòa vô cùng hiệu quả.
Tuy nhiên, sau tháng 4/1975, mọi hy vọng về các khu tự trị của các lãnh đạo chính trị sắc dân thiểu số ở Tây Nguyên đã nhanh chóng tan thành mây khói.
Không những các khu tự trị mới không được hình thành ở Tây Nguyên mà những khu tự trị thành lập trước đó ở miền Bắc cũng bị bãi bỏ.
Việc từ bỏ lời hứa về quyền tự trị, cộng với quá trình di chuyển hàng trăm nghìn người Việt vào khu vực Tây Nguyên, làm giảm mật độ tập trung của các nhóm dân tộc thiểu số trong khu vực cũng như khả năng chính trị trước đó của họ.
Vỡ mộng với giấc mơ tự trị đã châm ngòi cho sự phản đối vũ trang của FULRO, song những hoạt động quân sự này – vốn không còn hậu thuẫn bởi bất kỳ thế lực nào – nhanh chóng bị dẹp tan.

***
Nhà nước phong kiến Việt Nam truyền thống đã tuyên bố chủ quyền với Tây Nguyên, biến khu vực này trở thành các tiểu vương quốc phụ cận, thiết lập chế độ triều cống, cứ như vậy chúng được sáp nhập vào nhà nước Việt Nam hiện đại dưới thời Pháp.
Hiện thực nói trên đã tồn tại như một phần trong lập luận của người dân vùng cao về quyền tự trị khu vực. Tuy nhiên, các nhà nhân chủng học Việt Nam sau năm 1975 đã tự bóp méo những lập luận như vậy theo định hướng của đảng, vì lợi ích của “nhà nước Việt Nam thống nhất”.
Những lời hứa của những người cộng sản với người dân Tây Nguyên đã bị phá vỡ. Quá trình Việt Nam hóa và thuộc địa hóa miền núi mà chính quyền cộng sản từng dùng để chỉ trích nặng nề chế độ ở miền Nam Việt Nam, nay lại được chính họ tiếp tục tiến hành một cách mạnh mẽ hơn, quyết tâm hơn, và thậm chí là bạo lực hơn.


Chú thích
1. Grant Evans. (1992, August). Internal Colonialism in the Central Highlands of Vietnam. Journal of Social Issues in Southeast Asia. https://www.jstor.org/stable/41056853


