Đầu năm 1964, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập tại Sài Gòn. Hơn mười giáo phái, hội đoàn Phật giáo của miền Nam lần đầu tiên cùng đứng chung trong một giáo hội.
Cũng trong năm 1964, một nhà sư 19 tuổi, vừa tốt nghiệp Cao đẳng Phật học Sài Gòn, hăm hở đặt những bước chân đầu tiên của mình trên con đường nghiên cứu, giảng dạy đạo Phật, và cả sáng tác thơ văn, triết học.
Nhưng chỉ hơn mười năm sau, sự tự do của đạo Phật kết thúc khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ. Nhà sư ấy cũng như những nhà sư kiên định bảo vệ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất có chung một số phận: bị đàn áp và tù đày. Nhà sư ấy là Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ.

Mặt trời sau vũng máu
Phật giáo ở Việt Nam hiện nay có hai giáo hội. Một là Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) được thành lập vào năm 1981, giáo hội này cho chính quyền thành lập để kiểm soát Phật giáo. Hai là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) được thành lập vào năm 1964. Giáo hội này không được chính quyền Việt Nam công nhận từ khi GHPGVN ra đời.
Vì sao các nhà sư GHPGVNTN vừa không được công nhận, vừa bị đàn áp liên tục mà vẫn bảo vệ giáo hội? Một nửa câu trả lời nằm ở lịch sử.
Năm 1963 được xem là năm lịch sử của Phật giáo miền Nam. Đạo Phật đã nổi dậy chống lại sự chèn ép quá đáng của chính quyền Ngô Đình Diệm. Sự kiện nhiều Phật tử chết trong một cuộc biểu tình vào ngày Phật Đản ở Huế đã dẫn tới cuộc đấu tranh đòi tự do cho đạo Phật.
Từ tháng 4/1963 cho đến tận cuối năm, tất cả nhà sư và Phật tử đã kiên quyết đấu tranh với tinh thần dùng cái chết của mình để Phật giáo được tự do. Rất nhiều người đã chết bằng việc tự thiêu để phản đối đàn áp tôn giáo, hàng trăm người đã bị bắt giam, hàng nghìn người đã tham gia biểu tình, tuyệt thực. Đây là cuộc đấu tranh đổ máu của đạo Phật trước một chính quyền độc tài.
Sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị sát hại, cuộc đấu tranh của đạo Phật đã thành công dẫn đến việc thành lập GHPGVNTN. Đây có thể xem là giáo hội Phật giáo đầu tiên của Việt Nam sau một thời kỳ dài các tập đoàn Phật giáo hoạt động độc lập.
Cho đến nay, tinh thần của cuộc đấu tranh vẫn hiện rõ trong các nhà sư GHPGVNTN. Họ kiên quyết chịu tù đày, đàn áp, mất tự do đi lại chứ không thỏa hiệp, không theo chính quyền.
Đối với họ, tù đày, đàn áp không phải là khổ, cái khổ của họ là không thể là chính mình, không thể hành động như họ suy nghĩ, không thể sống đúng với chánh pháp mà họ đã đánh đổi bằng cả cuộc đời của mình.

Cải tạo nhà sư
Sau năm 1975, chính quyền mới cho rằng ở miền Nam “ngụy thầy” (thầy giáo của chế độ Việt Công hòa) còn nguy hiểm hơn “ngụy quân” (quân nhân của chính quyền Sài Gòn). Những người làm công việc giảng dạy bị đưa đi học tập cải tạo.
Trong số người đi trại cải tạo có rất nhiều nhà sư. Một trong những nhà sư này là Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ. Ông vừa là nhà sư vừa là giảng sư của Viện Đại học Vạn Hạnh, lại còn là người làm báo. Từ năm 1978, ông bị đưa đi trại cải tạo trong ba năm.
Sau năm 1975, một số các nhà sư miền Nam kiên trì đấu tranh cho tự do tôn giáo. Nhiều cuộc biểu tình, tự thiêu cá nhân và tập thể xảy ra còn nhiều hơn ở thời Việt Nam Cộng hòa nhưng đều bị che giấu. Từ năm 1975, chính quyền không cho phép người dân xuất gia. Tuy nhiên, kiếp nạn của các nhà sư vẫn chưa kết thúc. [1]
Án tử cho nhà sư
Trong những năm 1980, các nước cộng sản Đông Âu và Liên Xô bắt đầu có dấu hiệu không trụ vững. Việt Nam cùng chung số phận với những nước này. Nền kinh tế bao cấp gần như đưa người dân cả nước đi vào ngõ cụt, hàng triệu người đã vượt biên ở cả hai miền.
Đối với Phật giáo, từ sau khi nhà nước thành lập GHPGVN, hàng loạt các ngôi chùa bị buộc đóng cửa hoặc phải gia nhập giáo hội mới. Chính quyền đã làm mọi cách để khủng bố những nhà sư kiên trì bảo vệ giáo hội cũ.
Năm 1982, Hòa thượng Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Quảng Độ (sau này lần lượt trở thành tăng thống thứ tư và thứ năm của GHPGVNTN), bị chính quyền giam lỏng tại tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Thái Bình.
Tháng 4/1984, chính quyền mở chiến dịch bố ráp hàng loạt các nhà sư ở miền Nam, mở đầu bằng việc bắt giữ Thích Tuệ Sỹ, Thích Trí Siêu, Thích Nữ Trí Hải, và theo sau là hàng chục tăng ni, Phật tử khác. Cuộc vây bắt này kéo dài trong hai năm. [2]
Sau hơn bốn năm bị giam giữ, tháng 9/1988, chính quyền đưa các nhà sư ra xét xử. Thích Tuệ Sỹ và Thích Trí Siêu bị tuyên án tử hình vì tội thành lập tổ chức nhằm lật đổ chính quyền. Tổ chức Ân xá Quốc tế cho biết không có bằng chứng nào cho thấy hai người này sử dụng hoặc cổ vũ cho việc sử dụng bạo lực để chống nhà nước. [3]
Trước áp lực quốc tế, chính quyền đã giảm án xuống còn 20 năm tù giam. Sau 14 năm giam cầm, chính quyền đã trả tự do cho Thích Tuệ Sỹ và Thích Trí Siêu vào năm 1998.

Tù nhân ngoài nhà lao
Bạn có thể khó tìm thấy hoạt động nào của các nhà sư GHPGVNTN là cố ý chống chính quyền. Họ không kêu người dân nổi dậy chống phá chế độ. Nhưng họ không nghe theo chính quyền. Họ chỉ làm những việc cần phải làm theo chánh pháp Phật giáo và lý tưởng của một người xuất gia. Còn chính quyền thì cho rằng không có lựa chọn thứ ba, hoặc họ chống, hoặc họ phải theo phe chính quyền.
Năm 2003, Hòa thượng Tuệ Sỹ được mời làm Phó Viện trưởng Viện Hóa đạo của GHPGVNTN. Cũng trong năm này, Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố Thích Tuệ Sỹ, Thích Thanh Huyền, Thích Nguyên Lý bị giam giữ hai năm tại gia vì tội gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. [4]
Hòa thượng Huyền Quang bị giam lỏng đến ngày qua đời ở một ngôi chùa tại tỉnh Bình Định. Sau mười năm ở Thái Bình, Hòa thượng Quảng Độ chịu bản án tù 5 năm vào năm 1995, và bị giam lỏng đến khi qua đời ở một thiền viện tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Các nhà sư kiên trì bảo vệ GHPGVNTN là những người bị kiểm soát chặt chẽ, sự tự do của họ phụ thuộc vào chức vụ mà họ nắm giữ, và họ có những hoạt động chống chính quyền hay không.
Trong một buổi phát biểu vào năm 2008, Hòa thượng Tuệ Sỹ đã nói rõ quan điểm của ông trước những cưỡng ép của chính quyền, trong đó có sử dụng luật để buộc các nhà sư phải gia nhập Mặt trận Tổ Quốc: “Đúng là ở trong đất nước nào thì phải tôn trọng luật pháp đó. Nhưng nếu mình tự đặt ra luật pháp để dùng luật pháp đó xâm phạm tới giá trị, xâm phạm lý tưởng của người khác thì tôi không chấp nhận luật pháp đó, tôi sẵn sàng chịu chết. Tôi đã từng đứng trước bản án tử hình rồi. Tôi không sợ, tôi chấp nhận nó. Đây không phải tôi thách thức, mà là vấn đề lý tưởng của mình.” [5]
Ông cũng nói thêm rằng: “Một người xuất gia, điều cần thiết là nghị lực. Nếu không có nghị lực không thể giữ được chiếc áo.”



Chú thích
1. Trần Phương. (2021, May 26). Phật giáo miền Nam 1992 – 1994: Cuộc phản kháng cuối cùng | Luật Khoa tạp chí. Luật Khoa tạp chí. https://luatkhoa.com/2021/05/phat-giao-mien-nam-1992-1994-cuoc-phan-khang-cuoi-cung
2. Trần Phương. (2020, November 25). Phật giáo miền Nam sau 30/4/1975: Cuộc đại nạn thật sự của Phật giáo. Luật Khoa tạp chí. https://luatkhoa.org/2020/03/mien-nam-sau-30-4-1975-cuoc-dai-nan-that-su-cua-phat-giao/
3. Group’s joy at monk’s release. (1998, September 18). Newspaper. https://www.newspapers.com/image/922376708/?terms=Thich%20Tue%20Sy&match=1
4. AP: Monks from banned church under house arrest. (2003, October 25). Newspapers. https://www.newspapers.com/image/283953397/?terms=Thich%20Tue%20Sy&match=1
5. Thư viện Hoa sen. Định hướng tương lai với thế hệ tăng sĩ trẻ ngày nay. https://thuvienhoasen.org/a27487/dinh-huong-tuong-lai-voi-the-he-tang-si-tre-ngay-nay


