Không phải ngẫu nhiên mà số lượng người lao động Trung Quốc ở Nhật Bản đã tụt lại phía sau, nhường vị trí dẫn đầu cho Việt Nam. Điều này có nguyên nhân sâu xa từ các lo ngại về an ninh quốc gia của Nhật Bản.
Khi nói về quan hệ Việt – Nhật, các nhà quan sát thường bàn nhiều về hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục. Nhật Bản từ lâu là cường quốc cấp cho Việt Nam một nguồn viện trợ không hoàn lại to lớn.
Nhưng ngoài những lĩnh vực hợp tác đó, vấn đề di dân và hợp tác an ninh cũng quan trọng không kém, dù diễn ra âm thầm và không phô trương. Những lĩnh vực hợp tác trong lặng lẽ này thậm chí có tính chất chiến lược không kém các hợp tác về kinh tế.
Những con số biết nói
Trong năm 2020, số liệu thống kê của Bộ Lao động Nhật Bản cho thấy số lượng người lao động Việt Nam lần đầu tiên đã vượt Trung Quốc, chiếm số lượng lớn nhất trong lực lượng lao động nước ngoài tại nước này. [1]
Đây là một con số đáng chú ý vì nếu phân tích những diễn biến xung quanh con số này, chúng ta sẽ thấy nhiều điều có ý nghĩa trong quan hệ của Nhật Bản với Việt Nam và Trung Quốc.
Năm 2019, trước khi đại dịch COVID-19 xảy ra, Bộ Lao động Nhật Bản cho biết số người lao động Việt Nam đã tăng 26,7% so với năm trước đó, lên đến 401.326 người. Trong khi số người lao động Trung Quốc chỉ tăng 7,5%, dừng ở mức 418.327 người. [2]
Đến năm 2020, số người lao động Việt Nam tăng lên 443.998 người, tăng hơn 10% so với năm 2019, lần đầu tiên chiếm vị trí đứng đầu. Cũng trong năm này, số người lao động Trung Quốc là 419.431 người, chỉ tăng hơn 1.000 người so với năm 2019. [3]
Sang năm 2021, số người lao động Trung Quốc ở Nhật giữ nguyên con số 419.431 người. Trong khi đó, số người lao động Việt Nam năm 2021 tiếp tục tăng thêm hơn 13 ngàn người, lên tới con số 453.344. [4]
Năm 2022, Việt Nam tiếp tục tăng lên 462.384 người, còn Trung Quốc giảm xuống còn 385.848 người. [5]
Số người lao động Trung Quốc tại Nhật năm 2021 không thay đổi so với năm 2020 (419.431 người), cho thấy tác động của chính sách Zero COVID của Bắc Kinh: lao động Trung Quốc không đến Nhật được, và lao động Trung Quốc ở Nhật không về nước được.
Tuy nhiên, tốc độ tăng vượt xa Trung Quốc của số lượng người lao động Việt Nam ở Nhật năm 2019 (26,7% so với 7,5%) cho thấy xu hướng Nhật Bản tăng cường nhận người lao động Việt Nam thay vì Trung Quốc đã xuất hiện trước khi đại dịch COVID-19 bùng phát vào năm 2020.
Thực vậy, tốc độ tăng các năm trước đại dịch COVID-19, như các năm 2018, 2017 và các năm trước đó, thường ở mức trên 30% mỗi năm. Năm 2016 tăng những 56,4%, trong khi Trung Quốc cũng chỉ tăng 6,9%. [6] Năm 2015, Việt Nam tăng 63% còn Trung Quốc chỉ tăng 2,6%. [7]
Dĩ nhiên, chính sách Zero COVID của Trung Quốc trong năm 2021 và 2022 có thể tác động đến khả năng ra nước ngoài làm việc của người lao động Trung Quốc. Tuy nhiên, chính sách này cũng khiến cho nhiều người Trung Quốc tiếp tục làm việc tại Nhật mà không thể trở về nước. Ngoài ra, năm 2020 là năm đại dịch bùng phát thì lượng người lao động Trung Quốc sang Nhật vẫn tăng, dù tốc độ rất chậm.
Điều đó cho thấy việc người lao động Việt Nam vượt Trung Quốc là một xu hướng chung tại Nhật Bản. Còn chính sách Zero COVID của Bắc Kinh chỉ góp phần đẩy nhanh quá trình đó.

Di dân và bành trướng lãnh thổ
Việc người lao động Việt Nam vượt lên dẫn đầu về số lượng người lao động nước ngoài ở Nhật không phải là chuyện ngẫu nhiên. Ngược lại, đó có thể là một dụng ý chính sách.
Trong lịch sử chiến tranh và chinh phục, di dân từ lâu đã là một chiến lược phổ biến.
Trung Quốc mở rộng lãnh thổ như ngày nay trước tiên cũng bằng con đường di dân để tạo nền tảng về con người và văn hóa vững chắc ở vùng đất bị chinh phục. [8]
Gần đây nhất, vào thế kỉ 17, trong cuộc cạnh tranh với Hà Lan ở đảo Đài Loan, nhà Minh đã củng cố sự thống trị của văn hóa và ngôn ngữ Hán ở hòn đảo này bằng cách gửi đến thật nhiều di dân. [9]
Người Kinh ở Việt Nam mở rộng lãnh thổ từ miền Bắc ngày nay xuống phía Nam, trong nhiều thế kỉ trước, cũng là câu chuyện minh chứng cho vai trò của di dân trên bước đường “chinh phục” lân bang. Vai trò của di dân người Kinh trong quá trình Nam tiến, cắm trụ trong lãnh thổ Champa và Phù Nam, được nghiên cứu lần đầu trong sách “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim xuất bản năm 1920. [10]
Từ đó, cách nhìn của Trần Trọng Kim về quá trình Nam tiến tiếp tục chi phối các nhà nghiên cứu lịch sử ở Việt Nam suốt thế kỷ 20.
Phạm Văn Sơn trong “Việt sử tân biên” quyển 3 do Khai Trí xuất bản năm 1959 tiếp tục cái nhìn của Trần Trọng Kim, coi cuộc di dân Nam tiến như là biểu hiện của sức sống, khả năng chinh phục và tiến hóa của dân tộc mình.
Sau đó, nhà sử học Phan Khoang cũng lặp lại cái nhìn đó trong sách “Việt sử: Xứ Đàng Trong, 1558-1777: cuộc Nam-tiến của dân-tộc Việt-Nam” do Khai Trí xuất bản năm 1969.
Bất kể các nhà sử học nhìn mỗi cuộc di dân theo góc độ và tình cảm nào, mối quan hệ giữa di dân và mở rộng lãnh thổ mà họ đã phân tích trong các nghiên cứu của mình là có thật trong lịch sử.
Nhật Bản coi Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác là những người bạn thân thiện. Nói như cựu Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Umeda Kunio (nhiệm kỳ 2016 – 2020), Việt Nam là đồng minh tự nhiên của Nhật Bản, không phải mối đe dọa. [11]
Đối với Nhật Bản, Trung Quốc là một mối lo lớn. Họ không sợ cộng đồng người lao động nhập cư Trung Quốc mà sợ cách chính quyền Bắc Kinh có thể thao túng cộng đồng ấy khi xảy ra xung đột trong tương lai.
Bài tiếp theo sẽ phân tích khả năng chính quyền Trung Quốc huy động người Trung Quốc ở nước ngoài.
Chú thích
1. Xem “Báo cáo về tình hình lao động người nước ngoài tại Nhật” của Bộ Lao động Nhật Bản. Dưới đây là các báo cáo theo từng năm. 外国人雇用状況の届出状況について(報道発表), truy cập ngày 19/12/2023
2. Báo cáo của Bộ Lao động Nhật về tình hình lao động nước ngoài năm 2019 (truy cập ngày 19/12/2023)
3. Báo cáo của Bộ Lao động Nhật về tình hình lao động nước ngoài năm 2020 (truy cập ngày 19/12/2023)
4. Báo cáo của Bộ Lao động Nhật về tình hình lao động nước ngoài năm 2021 (truy cập ngày 19/12/2023)
5. Báo cáo của Bộ Lao động Nhật về tình hình lao động nước ngoài năm 2022 (truy cập ngày 19/12/2023) https://www.mhlw.go.jp/stf/newpage_30367.html
6. Báo cáo của Bộ Lao động Nhật về tình hình lao động nước ngoài năm 2016 (truy cập ngày 19/12/2023) https://www.mhlw.go.jp/stf/houdou/0000148933.html
7. Báo cáo của Bộ Lao động Nhật về tình hình lao động nước ngoài năm 2015 (truy cập ngày 19/12/2023)
8. Xem thêm những thảo luận về sự chuyển động dân số và sự bành trướng của Đế chế Trung Hoa trong sách “The Rise of the Chinese Empire: Nation, State, and Imperialism in Early China, ca. 1600 B.C.-A.D. 8” của Chun-shu Chang.
9. John E. Wills, “The Seventeenth-Century Transformation – Taiwan Under the Dutch and the Cheng Regime”, (in trong sách: Murray A. Rubinstein, Taiwan: A New History, 3rd Edition, Routledge, New York, 2020.)
10. Xem phần 6 của Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Tân Việt xuất bản, 1920.
11. Xem Umeda Kunio, Nhật Bản và Việt Nam là “Đồng minh tự nhiên”, Nguyễn Thị Lan Hương dịch, NXB Thế giới , 2023

